Nữ Sinh Đồng Khánh Bây Giờ Là Em!

Mai Văn Hoan say

VĂN — Viết bởi maivanhoan @ 12:09

Mai Văn Hoan say

altMình quen Mai Văn Hoan từ năm 1980, hình như vào cuối tháng 8 thì phải, khi đó mình vừa tốt nghiệp Bách Khoa, nhảy tàu buôn chè từ Vĩnh Phú vô Huế, vẫn thường tới ngủ lại nhà thầy Lâm, thầy giáo dạy văn lớp 10, người cùng làng với mình.  Hồi đó đói lắm, được thầy cho ngủ nhờ là may lắm rồi, không dám ăn uống. Đến bữa mình thường vẫn tránh đi, nói phét người này mời cơm người kia mời rượu rồi tót ra chợ Bến Ngự mua cân bún, vào quán rượu nhỏ cạnh đấy, quán này bán đồ mồi xì quách nên có nước xáo. Mua bát nước xáo trộn cân bún ăn mới no được, sức trẻ nếu ăn bùn bò Huế phải ba bát, tiêu pha sang thế không dám.

Mình vừa bưng bát nước xáo ra bàn chợt có người gọi, nói Nguyễn Quang Lập phải không, ngầng lên thấy Mai Văn Hoan ngồi với Ngô Minh góc quán. Mình không biết cả Mai Văn Hoan lẫn Ngô Minh, đọc thơ họ nhiều rồi bây giờ mới thấy mặt.  Hồi đó mình mới có hơn chục bài thơ đăng báo, tên tuổi chẳng ai biết, nghe ai gọi đầy đủ cái tên Nguyễn Quang Lập thì sướng rêm, lập tức sà đến ngay. Mình chưa biết uống rượu, chỉ ngồi hầu rượu hai đại ca để họ cho đọc thơ. Được các đại ca cho đọc thơ là mừng lắm rồi, lập tức mua cút rượu với đĩa xì quách đãi họ rồi rung đùi đọc thơ.

Đọc xong bài thơ, ngoảnh lại thấy đĩa xì quách đã sạch bách. Ngô Minh không ăn miếng nào, chỉ thấy Mai Văn Hoan đang chấm chấm mút mút. Mình mua thêm đĩa xì quách nữa, lại cao giọng đọc thơ, vừa dứt thơ đĩa xì quách cũng vừa hết. Vẫn thấy Mai Văn Hoan đang chấm chấm mút mút. Trông anh ăn thật ngon, mắt sáng tai vểnh, mồ hôi đầy mặt, luôn luôn có hai giọt to ở hai đuôi mắt và một giọt to đùng ở chóp mũi. Anh vuốt mặt một cái, xỉ mũi một cái lại chấm chấm mút mút. Mồ hôi lại túa ra, hai giọt to ở hai đuôi mắt, một giọt to đùng ở chóp mũi, hi hi rất hay.

Mình chực gọi thêm một đĩa xì quách nữa , Ngô Minh vội vàng ngăn lại, anh cười sật sật vỗ bụng Mai Văn Hoan cái bốp, nói thôi, mi không đủ tiền đổ mồi đầy bụng ông ni mô. Sau này mới biết anh có biệt hiệu “ thằng phá mồi”. Thời đói rách, thấy Mai Văn Hoan phá mồi thì xót lắm, nhiều hôm rủ nhau nhậu còn dặn nhau, nói đừng kêu thằng phá mồi nha, đừng kêu. Hi hi.

Phá mồi cũng phải thôi, anh to như con gấu lại phải ăn khẩu phần của chó con, bao nhiêu cơm canh phải nhường cho hai thằng con đang ở tuổi lớn. Anh có 4 đứa con, li hôn xong anh phải nuôi hai đứa. Ba cha con ở trong căn gác xép chừng chục mét vuông, một cái giường, một cái bàn, một cái bếp dầu, hai cái soong nhỏ, chấm hết. Soong nồi chỉ dùng trong nửa tháng, nửa tháng sau hết lương, ba cha con toàn ăn mì tôm.

 Một hôm mình tới chơi, thấy hai đứa con đang ngồi trước cái thau nhựa nhỏ  xíu đầy mì tôm, xì xụp ăn. Mình hỏi sao anh không ăn. Anh nói chờ chúng nó ăn no rồi mình mới ăn. Tưởng chờ con ăn xong thau mì tôm đó rồi anh pha thau mì tôm khác. Ai dè hai thằng cu chùi mép đứng dậy, anh bưng cái thau lên húp hết nước, tùa nốt mì tôm còn thừa, tùa sạch không còn một sợi mì nào còn sống sót. Mình cười, nói nhà này nếu nuôi mèo chắc mèo chết đói. Anh cười cái hậc, nói ông biết vì sao cả khu này chỉ có nhà tôi không có chuột không. Mình hỏi sao, anh nói đói quá chúng bỏ đi sạch. Mình cười, nói nhà thơ đói đến nỗi chuột cũng phải bỏ đi, thế giới này chắc chỉ có Mai Văn Hoan.

          Anh cười rất tươi, nói đói quá chuột còn ăn cả thơ tôi đấy. Anh lôi ra tập bản nháp thơ bị chuột cắn, nói đây này, chuột ăn thơ đây này. Vuốt mặt một cái xỉ mũi một cái, anh cao giọng đọc: Đêm nghe tiếng sột soạt / Tôi lén dậy bật đèn /  Hốt hoảng nhìn bản nháp / Thấy chẳng còn vẹn nguyên / Bài thơ vừa mới viết / Nói chuyện đời sâu, nông / Chuột gặm mất đoạn kết / Chừng đâu dăm sáu dòng/ Thế là tôi vội vội/Giấu thơ vào ngăn bàn/ Chỉ sợ chú chuột đói/ Lại chén thêm đôi hàng .

alt

Từ trái sang: Trầy Thùy Mai, Lâm Mỹ Dạ, HPNgoc Tường, Mai Văn Hoan,
vợ chồng nhà thơ Hoàng Cát. Ảnh NM chụp tại nhà HPNT

Đối với Mai Văn Hoan tóm lại một chữ say, say thơ say yêu và say rượu. Say thơ đến nỗi ra tòa li dị vợ, anh còn đọc thơ trước tòa, vừa đọc vừa khóc, vợ cũng khóc mà tòa cũng khóc. Nửa đêm làm được bài thơ tặng người tình cũ ở Nhà Trang, anh liền chạy ra nhảy tàu đi 1.200 cây số đến Nha Trang đọc thơ cho nàng, xong, lại nhảy tàu về nhà.

Mai Văn Hoan dạy chuyên văn Trường Quốc học cùng với thầy Lâm, học trò của anh không năm nào không đoạt giải văn toàn quốc, hết thảy coi anh như thánh chỉ vì anh dạy văn hay quá, hay nhất là giảng Kiều. Hiếm thấy học trò nào mê thầy như học trò thầy Hoan. Từ trẻ nhỏ cho đến khi già, bất kì lúc nảo hễ đàm đạo văn chương họ đều nhắc đến thầy Hoan, nói thầy Hoan giảng thế này, thầy Hoan bình thế kia…. Được làm một ông thầy như thế thật đã.

Thằng Lê Thanh Hà phó tổng hay tổng biên tập chi đó của tờ Sinh viên, một lần ngồi nhậu nó đố mình, nói đố anh cái chữ quì trong câu Kiều: Mụ già hoặc có điều gì / Liều công mất một buổi quì mà thôi, là thế nào? Cấm không được giải thích là quì lạy van xin nhé. Mình tịt. Thắng được nhà văn thằng Hà cười khoái chí lắm, nói thầy Hoan nói đó là cái quì của đàn ông khi yêu đàn bà. Chỉ một câu ấy thôi đủ thấy thằng Mã Giám Sinh đã nhiều lần phục vụ chuyện ấy cho Tú Bà. Cho nên nó mới nói với Kiều lỡ việc có bại lộ thì chỉ cần hắn quì một phát đã đời Tú Bà  là Tú Bà cho qua ngay thôi. Mình gật gù, nói giỏi! Bình Kiều như thế thì nhà “Kiều học” Vương Trọng cũng phải chào thua.

Chẳng riêng gì học trò Trường Quốc học, sinh viên đại học sư phạm Huế, Đại học tổng hợp Huế còn cải trang học sinh Trường Quốc học vào dự giờ anh giảng văn. Đây là cái thư anh Ngô Minh tìm được trong cả ngàn thư học trò gửi cho Mai Văn Hoan, thư này chắc chắn của người đẹp:  “…Thưa thầy, em đã nghe mọi người nói nhiều về thầy. Bên nhà trọ của em có một học sinh trường Quốc Học. Hôm qua, cô bé sang kể cho em : khi giảng Truyện Kiều thầy đã khóc. Nghe chuyện, em lại nhớ đến nhà thơ Bùi Giáng ngày trước cũng từng khóc cho cái chết của Từ Hải. Và em cảm kích vô cùng. Chính vì vậy em đã tìm cách đến nghe lén tiết giảng chiều nay của thầy. Có dự giờ thầy, em mới  hiểu vì sao cô bé đang học ở lớp 10.6 lại khen thầy đến như thế….Em… xin được giấu tên..”

Mai Văn Hoan dạy văn như lên đồng. Tia mắt sáng dọi thẳng vào mắt người nghe, mỗi chữ mỗi câu như được ém chặt từ lâu trong lồng ngực bỗng bung ra, run rẫy đầu môi run rẫy tóc, đến cả những giọt mồ hôi trên trán cũng run rẫy. Kinh. Hi hi cái cách dạy văn như vậy, nói như Nguyễn Khải, nếu mình là đàn bà thì mình cũng đã có chửa với anh từ lâu. Thế mới biết vì sao rất  nhiều người đẹp không đợi anh tán tỉnh đã viết thư tỏ tình cho anh, vui sướng làm người tình của anh dù biết anh đã hai vợ sáu đứa con.

          Riêng cái khoản yêu, Mai Văn Hoan vô địch trong làng văn. Buổi sáng nhịn đói lên lớp dạy thông 6 tiết cho tới trưa, rời lớp gặp người yêu vẫn đèo xe đạp chở nàng vào rừng thông Thiên An yêu nàng hơn một tiếng, không kể thời gian chép đề. Sốt 39 độ, người yêu đến thăm vẫn xơi được hai nhát. Ra ga tàu đi Hà Nội, nhà ga thông báo tàu chậm 1 giờ, anh liền chạy về nhà tìm vợ làm một nhát, xong mới chịu lên tàu. Hi hi bái phục bái phục.

Đến bây giờ khi lông mày đã bạc trắng anh vẫn không bỏ một cái say nào, vẫn say yêu, say thơ như tuổi ba mươi vậy. Rượu vẫn uống khỏe, tuổi 65 vẫn say tít mù. Tuổi ấy đa số đều hạ nhiệt giảm đô, anh vẫn uống tràn cung mây. Ngồi nhậu từ đầu buổi đến cuối buổi không nói câu nào, ai nói gì cũng cười cười gật gật, uống nhiều mà ăn cũng nhiều. Đến khi say là đọc thơ, đọc triền miên bài này sang bài khác không cho ai đọc. Say nữa là khóc, nói cả cái đất nước ni tau không thương ai hết, tau chỉ thương mạ tau với mạ Hải Kì thôi, thiệt đo. Anh ngồi ngửa cổ méo miệng khóc tu tu.

Nhìn ông già 65 lông mày bạc trắng ngồi khóc như con nít khóc hờn rất buồn cười, cả hội cười rũ. Anh xỉ mũi một cái vuốt mặt một cái trợn mắt lên, nói tao thương mạ tau răng bay cười. Lại xỉ mũi một cái vuốt mặt một cái trợn mắt lên, nói cười cái con cu tau đây nì. Rồi anh lại méo miệng khóc tu tu, nói cả cái đất nước ni tau không thương ai hết, tau chỉ thương mạ tau với mạ Hải Kì thôi, thiệt đo…

Hi hi.

Nguyễn Quang Lập

 

Nguồn: Blog Quê choa

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên (tuần san, số 310, ngày 9/5/2012

 

 

 

 


DẠY VĂN NHƯ THẦY TRƯƠNG THAM

VĂN — Viết bởi maivanhoan @ 17:12

Nhà giáo Trương Tham là người tôi hết sức quý trọng. Xin phép nhà thơ Trần Mạnh Hảo được đưa bài viết về thầy Trương Tham lên blog của tôi.

DẠY VĂN NHƯ THẦY TRƯƠNG THAM

04/27,2012

 

TRẦN MẠNH HẢO

Báo Bình Định online sáng 25/04/2012 đưa tin về việc thầy Trương Tham – nhà giáo ưu tú, nhà phê bình văn học, Hội viên Hội văn nghệ tỉnh Bình Định vừa từ trần lúc 15 h 53’ ngày 24/04/2012, tức ngày 04/ 04 năm Nhâm Thìn tại bệnh viện Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, viết như sau: 

“Nhà giáo Ưu tú (NGƯT) Trương Tham đã từ trần vào chiều 24.4. Trong cuộc đời dạy học, ông đã góp phần đào tạo rất nhiều học sinh xuất sắc. Trong thời gian giảng dạy tại Trường THPT Trưng Vương (TP Quy Nhơn), ông đã đào tạo 126 học sinh giỏi cấp tỉnh, 30 học sinh giỏi cấp quốc gia. Là người hiếm hoi làm công tác phê bình văn học ở tỉnh ta, ông đã cho ra đời 2 tập sách “Cảm nhận và Bình thơ” (NXB Văn hóa Thông tin, 2005), “Thơ và Bình thơ” (NXB Hội Nhà văn, 2009)…”

http://www.baobinhdinh.com.vn/vanhoa-nghethuat/2012/4/125907/

Bác sĩ Hồ Hải, một blog nổi tiếng đã viết về thầy Trương Tham như sau :

“…Cái đặc biệt thứ ba, mà cả nước ai cũng biết từ cái ngày trước 30/4/1975 ở miền Bắc, đến sau này về trường Trưng Vương, Quy Nhơn, thầy là một người dạy văn đến hốt hồn học trò”

http://bshohai.blogspot.com/2012/04/thay-truong-tham.html

Nhà văn trẻ Lê Hoài Lương, tác giả của nhiều truyện ngắn xuất sắc, học trò thầy Trương Tham ( vừa được kết nạp vào Hội nhà văn VN), trong bài “ Vĩnh biệt thầy Trương Tham, trên báo Bình Định đã viết rất đúng : “trong lòng các thế hệ học trò, thầy Trương Tham sừng sững một tượng đài.”

http://www.baobinhdinh.com.vn/vanhoa-nghethuat/2012/4/125917/

Người viết bài này (TMH) cách nay gần ngót 50 năm trước vốn là học trò thầy Trương Tham, nhờ công ơn thầy (và thầy Lê Văn Trạm hiệu trưởng trường cấp 3 Nghĩa Hưng, Nam Định) khai tâm về văn học, mới nên người hôm nay. Nhớ dáng thầy thanh mảnh vừa bước vào lớp đã tươi cười chào học trò bằng giọng Bình Định êm ru tiếng sóng biển và ngay lập tức, thầy đọc thơ…Cả lớp vỗ tay như sấm sau khi thầy nói mấy lời về học văn; rằng, học văn không chỉ bằng bộ óc mà phần lớn là học bằng trái tim, học bằng tâm hồn; rằng nhiệm vụ của thầy năm học này không chỉ là truyền thụ kiến thức mà phần chính là làm cho các em phải yêu, phải say văn học. Không có tình yêu mãnh liệt, không thể học nổi môn văn. Rằng, nếu không có thầm mỹ văn chương, các em không thể có thẩm mỹ về văn hóa nói chung…Chỉ trong một giờ đầu khai tâm về văn học, thầy Trương Tham đã hút hồn cả lớp chúng tôi. Trên bục giảng, thầy vừa là một nhà khoa học, một nhà sư phạm, đồng thời là một nghệ sĩ . Ngay từ tiết đầu, thầy đã cử tôi ( TMH) làm cán sự môn văn…

Khi dạy văn, thầy Trương Tham thường không coi giáo án, thầy giảng say mê như lên đồng, như phù thủy , thầy bùa chú học sinh khiến không học trò nào nói chuyện riêng. Từ dáng điệu, giọng nói, nét cười, cách ghi phấn bảng, cách thầy đi lại trên bục giảng và đi lui đi tới hầu như đều hòa điệu với nội dung bài giảng. Tôi đã từng được học các thầy dạy văn giỏi nhất tỉnh Nam Định ( lò dạy văn Nam Định lúc đó đứng đầu toàn miền Bắc) nửa thế kỷ trước khi đi bồi dưỡng học sinh giỏi văn toàn tỉnh để thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc từ cấp hai đến cấp ba, nhưng chưa có thầy nào giảng văn rất nghệ sĩ và cũng rất khoa học như thầy Trương Tham. Thầy Trương Tham cho học sinh tự do trong cảm thụ văn học, từ do ngay trong khi làm bài luận văn. Có lần thầy ra đề thi về nhà làm, tôi đã viết bài luận văn toàn bằng thơ, thầy vẫn cho điểm 05 là điểm cao nhất thời đó.

Khi thầy trò quen thân nhau rồi, thầy Tham cho tôi mượn sách, trong đó có cả cuốn “ quốc cấm- phản động” là cuốn : “Thi nhân ViệtNam” của Hoài Thanh-Hoài Chân. Thời đó, những quan niệm văn học ấu trĩ tả khuynh đang thống trị đất nước và văn đàn. Thơ Mới ( 1930 -1945), những kiệt tác của nền văn học dân tộc bị coi là thơ lãng mạn, đồi trụy. Khi trao cho học trò cuốn sách “ phản động “ này, thầy coi như đánh cược cả đời mình : nếu học trò phản bội thầy, đưa tập sách này lên ban giám hiệu, thầy Tham không chỉ bị đuổi ra khỏi ngành giáo dục, mà có khi còn bị công an làm khó dễ. Tôi đã thức trắng đêm để chép hết cuốn “ Thi nhân Việt Nam” để trả lại thầy và giấu biến cuốn sách lớn là những bài thơ hay nhất của nền Thơ Mới như giấu một quả bom nguyên tử.

Năm học với thầy Tham, tôi đã thuộc lòng các bài thơ chính yếu làm nên nền Thơ Mới qua sự chọn lựa và bình chú của Hoài Thanh, đọc gần hết các giáo trình văn học của Đại học sư phạm Vinh nơi thầy Tham vừa ra trường, nâng chiều kích tâm hồn một học trò lên cùng với những áng văn thơ hay nhất của văn chương trong nước và quốc tế.Trong cuộc đời làm văn chương của mình, quả thực thầy Tham là thầy giáo dạy vỡ lòng cho tôi về văn học, là ngọn lửa đầu tiên thắp lên ánh sáng trong tâm hồn tối tăm mù chữ của tôi. Không có thầy Trương Tham, cuộc đời tôi chắc không rẽ vào nẻo văn chương như hôm nay.

Ngay từ khi bước chân vào lớp dạy văn cho chúng tôi, thầy Tham đã nêu một chuẩn mực hiếm có : thầy dạy các em và rồi thầy cũng sẽ được các em dạy lại. Sau này, khi đã trưởng thành, thông qua nhiều lần thầy trò trao đổi bằng thư tín và điện thoại, tôi mới hiểu điều thầy nói là hiện thực. Qúy hiếm thay một nhà giáo dạy văn hay và giỏi vào hàng nhất nước, vào hàng xưa nay hiếm có như thầy Trương Tham, lại biết tìm học cả những học trò bé nhỏ của mình. Tinh thần khiêm tốn học hỏi của thầy là vô tận, nên kiến thức của thầy thật uyên bác.

GS.TS Trần Đăng Suyền ( hiện là ủy viên hội đồng lý luận văn học nghệ thuật trung ương), học sau chúng tôi mấy khóa, vốn là học trò cưng của thầy Trương Tham từ trường cấp 3 Mỹ Lộc, Nam Định, mỗi lần anh em gặp nhau, Suyền đều giành thời gian để nhắc về người thầy kính yêu thuở cấp 3; rằng theo Suyền thầy Tham là thầy dạy văn giỏi vào hàng số một Việt Nam; cho đến hôm nay, khi đã đứng trên bục dạy đại học nhiều năm, mỗi lần gặp thầy,  Suyền vẫn học ở thầy Tham nhiều điều mới lạ không chỉ kiến thức văn học.

Bây giờ, học trò thầy đã có hàng trăm người thành danh ở nhiều lĩnh vực trên khắp đất nước. Thầy vẫn sống cô đơn, một thân một mình, tập trung tinh thần và sức lực cho việc giảng dạy học sinh giỏi văn tỉnh Bình Định, dù thầy đã về hưu từ lâu.

Thầy Tham sinh trưởng tại xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, Bình Định bên dòng sông Kim Sơn thơ mộng. Cha thầy là một trí thức lớn đã tham gia cách mạng từ sớm và đưa thầy ra tập kết ngoài Bắc. Cụ thân sinh của thầy là cán bộ cao cấp đi B và đã hi sinh tại chiến trường Bình Định thời chống Mỹ. Hai em gái của thầy cũng đã hi sinh tại quê hương trong thời quân Pắc Chung Hi càn quyét huyện Hoài Ân. Khi trở về quê hương dạy học tại trường cấp 3 Trưng Vương, Quy Nhơn, thầy Tham không còn ai là ruột thịt. Nhiều lúc buồn vì thế sự đảo điên, vì bọn tham nhũng đang thống trị đất nước, thầy Tham nói qua điện thoại : “ Thế này thì máu của cha thầy, của hai em gái thầy, của hàng triệu người đã đổ ra ….chẳng uổng phí lắm sao ?”

Giờ đây thầy Tham đã trở về bên kia cõi tồn tại để đoàn tụ với cha mẹ và hai em gái của thầy. Thay mặt những học trò thầy Tham ở xa không về đưa tiễn thầy được, tôi xin cám ơn thầy Đào Phú Hùng hiệu trưởng trường trung học Trưng Vương Quy Nhơn Bình Định, cám ơn cô Nguyễn Thị Phương Minh hiệu phó nhà trường (người đã nhận thầy Tham làm cha nuôi và thầy cũng nhận cô Phương Minh là con nuôi), cám ơn thầy Đỗ Kim Hảo (tổ trưởng tổ văn) và cám ơn các thầy cô của trường, cám ơn các bạn, các em học trò thầy Tham đã hết lòng chăm sóc thầy ở bệnh viện, lại dốc hết sức lo tang lễ cho thầy.

Qua trang tìm kiếm www.google.com, từ Sài Gòn, tôi vẫn thấy cảnh tang lễ thầy Tham trong nhà tang lễ bệnh viện Quy Nhơn do các bạn đưa hình ảnh lên youtube, thấy bạn Phạm Đức Minh (em kết nghĩa của thầy Tham, bạn thân của người viết bài này vào đưa tang thầy từ Hà Nội), thấy cô Nguyễn Thị Phương Minh con gái nuôi của thầy và thấy các thầy cô, các bạn, các em đứng bên quan tài của thầy Tham. Bốn giờ chiều mai (ngày 27/04/2012) thầy sẽ được an táng trong nghĩa địa Phật giáo Quy Nhơn dưới bóng bức tượng ngài Địa Tạng, phía Khu Sáu, gần Ghềnh Ráng, nơi có mộ của thi hào Hàn Mặc Tử.

Đối với người viết bài này, xin có lời cuối thưa với thầy Trương Tham: giờ thì thầy và đứa con mới mấy tháng tuổi của em đã nằm chung trong một nghĩa địa. Cám ơn thầy đã xây mộ cho cháu và mỗi năm mấy lần ra thăm mộ cháu, còn khắc cho cháu tấm bia để ghi tên cháu trên mặt đất: Trần Kim Mạnh. Cầu mong hai ông cháu được đoàn tụ nơi Niết Bàn.

Vĩnh biệt thầy Trương Tham, một người thầy lớn, một nhà giáo dục lớn, một tình yêu lớn với nghề sư phạm và văn chương. Khi nào các em các cháu ViệtNamta còn chán học môn văn như ngày hôm nay thì ngày ấy đất nước sẽ gần tới thảm họa. Cầu mong tinh thần dạy văn bằng cả tâm hồn nghệ sĩ của thầy Trương Tham sẽ sống lại, góp phần phục hưng môn văn trong nhà trường, cũng là một cách góp phần phục hưng đất nước đau khổ và đầy hệ lụy này.

Học trò cũ của thầy, đưa em kết nghĩa của thầy vĩnh biệt thầy.,.

Sài Gòn ngày 26-04-2012

Theo Blog nhathonguyentrongtao


Chén rượu quê rưới lên phận thơ mình

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 16:45
Chén rượu quê rưới lên phận thơ mình
QĐND - Thứ Sáu, 02/03/2012, 10:33 (GMT+7)

QĐND - Cầm tập thơ Rượu quê của Mai Văn Hoan (NXBThuận hóa-2011) là cầm thêm một vật chứng của thời gian. Người gửi hứa quay lại trong phút chốc mà mãi không thấy, người cầm buông tay thì sợ mất, mang đi lại sợ thất lạc nên cứ bồi hồi như cầm những giọt nước mắt còn ấm nóng. Mai Văn Hoan nghiền (chứ không phải nghiện) rượu quê. Thứ rượu không trộn không pha, mới đôi ba chén mà ngà ngà say. Chất men rượu quê thức dậy cảm xúc để mà nhớ mà thương, mà đau đáu về nơi nhà thơ từng lấm bùn một thuở. Nơi núi kề bên sông, sông kề bên biển. Và ông đã làm một chuyến hồi hương.

 

Về quê thăm họ hàng thân tích, gốc đa mái đình, tìm lại những gì đã găm sâu vào bản mệnh dẫu vật đổi sao dời. Mảnh tình như một vầng mây xanh lơ ngày nào giấu dưới đáy giếng làng nhà thơ cũng cố tìm bằng được:

Lỡ tay thương chiếc gàu rơi

Làm xao lòng giếng một thời vụng yêu.

Gàu rơi xuống đáy giếng thì lực mạnh lắm, nhưng chỉ làm xao lòng giếng; còn nay trở về sau chặng dài duyên số dở dang, thi nhân buông dây gàu nhè nhẹ vẫn sợ đau giếng làng, sợ mảnh trăng vàng soi chung đêm nao tan chảy… Rất nhiều cảnh cũ người xưa giờ chỉ lưu trong tiềm thức của nhà thơ: Sân đình không còn thấy nữa/ Cây đa ai đốn mất rồi!; “Ngôi chùa ấy.../ Thời chiến tranh bom đạn phá mất rồi; Có một dòng sông mờ tím/ Nước xanh in bóng mẹ nghèo... Ân nặng thân quyến được Mai Văn Hoan khắc họa đậm nhất, dồn dập, đau thương, và cũng là mảng đáng quý nhất trong tập thơ. Nhà thơ viết về Ông nội, Bà nội, Bà ngoại và chiếc gậy; viết về cha: Cha ra đánh cá ngoài khơi/ Những chiều con đứng trông vời chân mây... viết tưởng nhớ cậu Đào Duy Anh, viết khi tìm mộ người anh là liệt sĩ hi sinh ở Kon Tum, viết về con, về thằng cháu ngộ nghĩnh trong Bắt chuồn chuồn, viết về người phụ nữ lỡ lấy kẻ “duyên nợ cùng thơ” nên phải lo toan gánh vác... Đậm nét nhất là người Mẹ, thể hiện ngay ở những tên bài: Gốc dứa mẹ trồng, Bờ sông nhớ mẹ, Giỗ mẹ, Nói với hương hồn mẹ... Hình bóng mẹ còn ẩn hiện trong nhiều bài thơ khác: Có một dòng sông; Mỗi năm cứ đến mùa đông; Cánh buồm tuổi thơ v.v... Dáng mẹ hòa vào hình ảnh con thuyền ánh lên sinh sộng như một bức ảnh nghệ thuật gom cả trời Sao hôm:

Tay mẹ đưa, nước vỗ nhịp mái chèo

Mái chèo xoáy gợn lân tinh ngời sáng

Bóng sao hôm đổ dài lấp loáng

Con thuyền trôi trong sương đêm

Sao chênh chênh soi dáng mẹ nghiêng nghiêng

Lèn ngả bóng trên mặt sông phẳng lặng

Tiếng vạc xa rơi vào đêm sâu thẳm...

Người Mẹ của Mai Văn Hoan hiện lên ở đây như biểu tượng của người phụ nữ trong chiến tranh sáng trưa chèo đò đưa bộ đội qua sông: Máu đỏ bầm sông/ Khăn tang trắng đất/ Giặc Mỹ cướp mất/ Mẹ của chúng con... Mất mẹ, con bám víu vào cha nhưng cha cũng đã thành hư vô giữa trùng khơi dội sóng. Bóng mẹ lồng vào người cha như một phép lạ của thơ.

Hãy đọc nốt hai bài ở cuối tập, Mai Văn Hoan viết về bố vợ. Thường điếu văn được viết cho người đã nhắm mắt, đọc lúc làm lễ truy điệu. Thương bố vợ sẽ âm dương cách trở Mai Văn Hoan đã chong đèn viết liền một mạch đến bốn giờ sáng nước mắt nhòe thấm ướt cả trang thơ... rồi đọc ngay cho ông nghe trước lúc xuôi tay, mãn nguyện. Một tập thơ mà chứa chất nhiều ân nghĩa như vậy, thiết nghĩ không nên phô ra đây những câu rỗng ý thừa, những bài thơ mới chỉ là sự xoạc bút ru tình...

Có lẽ Mai Văn Hoan sẽ rất bất ngờ với điều này: Ngày 17-11-2010 anh ký tặng tôi một tập tiểu luận cảm nhận thi ca, tròn một năm sau cũng đúng ngày 17-11-2011, chữ ký không thể bắt chước ấy lại đậm nét ở trang đầu tập thơ Rượu quê trên tay tôi. Một sự trùng hợp khiến ai cũng... khó hiểu. Mãi đến đầu năm nay tôi mới đọc và suy ngẫm tập sách dày gần 300 trang đó. Mai Văn Hoan viết nhiều về văn thơ bè bạn khắp nước, song ở đây quy tụ hoàn toàn những gương mặt của Huế. 

Cũng như tập thơ này của ông, ấy là Nhịp đập của một trái tim nhiều trăn trở về một nốt trầm xao xuyến; là sự chiêm nghiệm những giấc mơ hoang tưởng và đồng vọng về những âm thanh lắng vào sương khói...

                                                                                                                                       Nhụy Nguyên
 
Nguồn: Báo QDND ct

Thơ cho ngày Valentine

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 17:34

 

Thơ cho ngày Valentine

EM HÃY LÀ CƠN MƯA

“Sông An Cựu nắng đục, mưa trong”
...

Tóc em còn xanh lắm

Nước sông anh đục rồi

An Cựu, ơi An Cựu

Huế bao giờ mưa rơi ?



Huế bao giờ mưa rơi

Cho sông anh xanh lại

Thạch xương bồ em gội

Thơm từng sợi tóc mềm



Ước gì được cùng em

Thả mình trên dòng nước

Mặc cuộc đời xuôi ngược

Mặc mưa, nắng, đục, trong...



Thoắt có rồi thoắt không

Thoắt còn rồi thoắt mất

Cái luật đời khe khắt

Lẽ nào ta chịu thua ?



Em hãy là cơn mưa

Cho anh làm An Cựu

Tình yêu cháy thành thơ

Đưa ta vào vĩnh cữu !



Mai Văn Hoan

HÃY GỬI CHO CHÚNG TÔI THƠ, THƯ VÀ BÀI VIẾT VỀ NHÀ THƠ HẢI KỲ

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:14

HÃY GỬI CHO CHÚNG TÔI THƠ, THƯ VÀ BÀI VIẾT VỀ NHÀ THƠ HẢI KỲ

Kính gửi : Những người yêu mến nhà thơ Hải Kỳ trong cả nước

Ngô Minh- Mai Văn Hoan cùng Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình đang xúc tiến biên soạn  HẢI KỲ TUYỂN TẬP, để ra mắt vào dịp giỗ đầu của nhà thơ 7-2012 sắp tới. Để tuyển tập được đầy đủ và sinh động, chúng tôi kêu gọi những người yêu mến nhà thơ Hải Kỳ : Nếu còn giữ được những bài thơ Hải Kỳ tặng mình, những bài viết hay thư của Hải Kỳ gửi cho mình, những bài mình  viết về Hải Kỳ, thì cho chúng tôi xin bản sao để nghiên cứu đưa vào tuyển tập.

        Sinh thời nhà thơ Hải Kỳ có rất nhiều bạn bè, nhất là các người đẹp .Nhà thơ từng viết :"Những người đẹp tôi thường để ý/ Và nhiều khi khen ngợi thành lời". Chúng tôi đồ rằng, thơ , thư Hải Kỳ còn tản mát nhiều bài ở trong valy các người đẹp. Chúng tôi xin  các bạn hãy gửi cho chúng tôi những bài thơ, lá thư quý giá đó.

        Địa chỉ của chúng tôi : NGÔ MINH, 11/73- PHAN BỘI CHÂU, TP HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HIUẾ. ĐT : 098 5757355.         Mai Văn Hoan, 26 Lê Lợi, Huế,  ĐT : 0914050667

Email : ngominhnt@gmail.com; maivanhoan49@gmail.com

Mong nhận được sớm sự hồi âm của  những người bạn yêu mến  nhà thơ Hải Kỳ

MAI VĂN HOAN-NGÔ MINH


Thơ cho ngày Valentine

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 21:53

                             

Thơ cho ngày Valentine

 

EM HÃY LÀ CƠN MƯA

            

           “Sông An Cựu nắng đục, mưa trong”

 

 

Tóc em còn xanh lắm

Nước sông anh đục rồi

An Cựu, ơi An Cựu

Huế bao giờ mưa rơi ?

 

Huế bao giờ mưa rơi

Cho sông anh xanh lại

Thạch xương bồ em gội

Thơm từng sợi tóc mềm

 

Ước gì được cùng em

Thả mình trên dòng nước

Mặc cuộc đời xuôi ngược

Mặc mưa, nắng, đục, trong...

 

Thoắt có rồi thoắt không

Thoắt còn rồi thoắt mất

Cái luật đời khe khắt

Lẽ nào ta chịu thua ?

 

Em hãy là cơn mưa

Cho anh làm An Cựu

Tình yêu cháy thành thơ

Đưa ta vào vĩnh cữu !

 

 Mai Văn Hoan


Ngày thơ VN đổi mới với nỗ lực giao lưu quốc tế

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 19:15

Nghệ sĩ Huế với đêm thơ Nguyên tiêu 'Âm vọng thời gian'

Tối 5/2, trong không gian trầm lắng của di tích Nghinh Lương Đình (Đại nội Huế), giới nghệ sĩ và công chúng được thưởng thức một đêm thơ đi vào lòng người.
 Ngày thơ VN đổi mới với nỗ lực giao lưu quốc tế

Đêm thơ Nguyên tiêu với chủ đề “Âm vọng thời gian” do Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp Hội Nhà văn tỉnh tổ chức, nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10. Sự góp mặt của những nhà thơ tên tuổi đang sống tại Huế như Nguyễn Khoa Điềm, Mai Văn Hoan… làm cho đêm thơ thêm sức “nóng”.

Trong bầu không khí cổ kính, trang nghiêm được trang trí cờ phướn, đèn hoa đăng của Nghinh Lương Đình, từng bài thơ được các nghệ sĩ Huế cất lên, át cả tiếng xe cộ ồn ào trên đường Lê Duẩn. Đó là chút trầm lắng của Ngẫu hứng Huế, hoài niệm với Ông đồ, hay chút tươi vui của Mùa xuân chín

 
Trong không gian cổ kính của Nghinh Lương Đình, từng bài thơ được cất lên nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10.

Ông Đặng Mậu Tựu, Chủ tịch Liên Hiệp các hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế, cho biết đêm thơ là dịp để giới nghệ sĩ và công chúng ngồi lại bên nhau, cùng nghe những bài thơ đậm âm hưởng xứ Huế cũng như những bài thơ ca ngợi quê hương, đất nước đi cùng năm tháng.

Tại Huế, trước đêm thơ Nguyên tiêu “Âm vọng thời gian”, một không khí thơ ca đã ngập tràn với chương trình thơ chủ đề “Thi ca một miền di sản” được tổ chức tại Trung tâm VHTT thị xã Hương Thuỷ đêm 4/2. Sáng 5/2, Hội Nhà văn tổ chức viếng mộ các thi nhân tại Huế.

Đêm 6/2 (Rằm tháng Giêng) sẽ diễn ra chương trình “Thơ Thiền đời Trần” tại đền thờ vua Trần Nhân Tông trên núi Ngũ Phong (phường An Tây, TP Huế).

Nguyễn Đông


NGOÁI NHÌN NĂM CŨ…

BÀI CỦA BẠN — Viết bởi maivanhoan @ 17:37
NGOÁI NHÌN NĂM CŨ…
Trần Đăng Khoa
 

 


Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch, Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365 ngày, với 8760 giờ - Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới - thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở LiBi, cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn mười vạn người Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở LIBI. Lần đầu tiên, chúng ta đã tổ chức thành công đưa hơn mười vạn người Việt Nam thoát khỏi lửa đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong năm vừa qua.
Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên sân khấu…Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa. Nhìn lại những thước phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có đến một ngàn bảy trăm đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác gia lớn, Chủ tịch của cả hai hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên ngành. Đó là điều rất không bình thường.
Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc việt với những tài năng lớn, họ yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ còn đi trước cả thời đại. Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954, Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh - ấy là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976, Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên. Bây giờ chúng ta mới học Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ, hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”. Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi…và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không tìm được hài cốt.
Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời - Sữa nuôi phần xác. Hát nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa thì hiểm họa khôn lường. Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng tượng được. Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên  Nguyễn Đức Nghĩa đã làm ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở lứa tuổi vị thành niên. Rồi ít ngày nữa, vụ án sẽ được đem ra xét xử. Theo Bộ Luật hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao? Nếu Luyện thoát được án tử hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi. Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người, giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.
Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời ngăn chặn. Năm nay là năm CON RỒNG. Chúng ta đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và phát triền. Cầu mong năm nay, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ và lòng nhân ái mà không có máu người…

Nguồn: VOV online

 


CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI HUẾ TẤT NIÊN SỚM

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:44

09 January, 2012 11:36

CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI HUẾ TẤT NIÊN SỚM

Nhà văn TRần THùy Mai tặng hoa mừng thọ 80 của Hồng Nhu

CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI HUẾ TẤT NIÊN SỚM

Mai Văn Hoan

 

 


        Lý do mà chủ tịch Chi hội Nguyễn Khắc Phê đề xuất tất niên sớm là mừng Phạm Phú Phong vừa được kết nạp. Buổi tất niên tổ chức ngay tại tư gia Phạm Phú Phong, trên đường Điện Biên Phủ, tp Huế. Đúng 10 giờ sáng, anh chị em trong Chi hội đã có mặt tương đối đầy đủ. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ đang có chuyến công tác ở Huế cũng đến chung vui. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mang tặng mỗi người một tập Thơ Nguyễn Khoa Điềm tuyển tập 40 năm do tác giả chọn (NXB Văn học) vừa mới ấn hành. Trần Thùy Mai thay mặt anh em tặng hoa  nhà văn Hồng Nhu lên lão 80. Nhà văn Hồng Nhu thay mặt anh em tặng hoa hội viên mới Phạm Phú Phong. Nhà thơ Hữu Thỉnh từ Hà Nội  điện thoại vào chúc mừng.
        Trước khi vào tiệc, chủ tịch Nguyễn Khắc Phê tổng kết vắn tắt hoạt động của Chi hội trong năm qua. Ấn tượng nhất là chuyên đi thực tế và giao lưu với các bạn nhà văn Lào ở thủ đô Viên – chăn.  Lâm Thị Mỹ Dạ và Hồng Nhu hoàn thành Tuyển tập. Nguyễn Khắc Phê tái bản hai bộ tiểu thuyết Chỗ đứng người kỹ sư, Đường đỏ đá xanh. Nguyễn Quang Hà xuất bản  Con nợ (tiểu thuyết),  Mai Văn Hoan xuất bản Rượu quê (thơ). Ngô Minh xuất bản Cổ tích tàu không số (ký)… Chi Hội liên kết tổ chức khá thành công Hội thảo tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, giới thiệu sách Cổ tích tàu không số của Ngô Minh…Các nhà văn Hồng Nhu, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khắc Phê có tên trong danh đề cử Giải thưởng Nhà nước. Nhà văn Trần Thùy Mai nhận Giải Văn chương của  Hội Hữu nghị San francisco – tp Hồ Chí Minh. Chi Hội bàn phương án chuyến đi thực tế đảo Trường Sa và dự trại viết ở Côn Đảo sắp tới.
     
       Buổi tất niên của Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế diễn ra trong không khí hết sức vui vẻ và ấm cúng.

     


Nô - en với Hải Kỳ

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:38
Mai Văn Hoan: Nô - en với Hải Kỳ
[24.12.2011 16:57]
 


Mỗi năm sắp đến Nô-en là tôi lại nhẩm đọc những câu thơ rất đỗi tài hoa của Hải Kỳ: Đêm này đêm Chúa giáng sinh/ Tình yêu tôi cũng tượng hình đêm nay... Hải Kỳ làm bài thơ Dạ khúc Nô-en cách đây đã mấy chục năm mà tôi cứ ngỡ như anh vừa viết hôm qua. Kỷ niệm bạn bè vẫn còn tươi rói trong tôi.

Thời đó, Hoàng Vũ Thuật, Ngô Minh, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty, Hải Kỳ và tôi thường “lang thang cùng Huế”. Nhóm bạn thơ chúng tôi đứa nào cũng lãng mạn nhưng mỗi đứa lãng mạn mỗi cách. Hải Kỳ là chàng thi sĩ si tình rất dễ yêu nhưng chóng chán. Anh từng thú nhận: Với người đẹp tôi thường để ý/ Và nhiều khi khen ngợi thành lời. Quen biết người đẹp là cái cớ để Hải Kỳ làm thơ. Đôi khi chỉ mới gặp người đẹp một thoáng, anh đã có thơ tặng ngay. Chúng tôi hết sức khâm phục sự nhanh nhạy của anh.

Tôi còn nhớ năm 1979, Hải Kỳ được Ty Giáo dục Bình Trị Thiên mời vào Huế luyện thi học sinh giỏi văn cấp 2 toàn quốc đúng dịp Chúa giáng sinh. Thời đó, những người mới từ Quảng Bình vào Huế như chúng tôi rất háo hức đi xem Nô-en. Nghe người ta đồn vào đúng nửa đêm ở nhà thờ Phú Cam có màn trình diễn của những con chiên vô cùng xinh đẹp tái hiện lại cảnh Chúa Giêsu ra đời trên máng cỏ, thế là chưa đến sáu giờ chiều, nhóm bạn chúng tôi đã hòa vào dòng người hiếu kỳ đang nườm nượp đổ về đường Nguyễn Trường Tộ. Lực lượng công an phải làm việc hết sức vất vả.  Chúng tôi tình cờ gặp nhóm sinh viên khoa văn Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Khoa học Huế) cũng đang đi  Nô-en. Cô sinh viên tên là Thanh Hà có gương mặt trái xoan, cặp mắt lá răm, làn da trắng mịn và đôi môi hồng thắm đã hút hồn Hải Kỳ. Chúng tôi rất muốn vào bên trong  nhưng đám đông chen lấn, xô đẩy nhau ghê quá, đành đi dạo mấy vòng quanh khuôn viên nhà thờ rồi tìm một quán cà phê vắng người trên dốc Phú Cam nói chuyện, đọc thơ.Trong nhóm chúng tôi, Hải Kỳ đọc say sưa nhất. Chắc là thi sĩ muốn trổ tài trước người đẹp?

Nhà thơ Hải Kỳ (trái) và nhà thơ Mai Văn Hoan chụp năm 1979

Đêm ấy, về căn phòng như “tổ chim treo” ở trường Trưng Trắc (Hai Bà Trưng), tôi và Hải Kỳ cứ trằn trọc mãi. Gần bốn giờ sáng, tôi thấy Hải Kỳ ngồi dậy, rón rén  đến bàn, lấy giấy bút, viết liền một mạch, không hề tẩy xóa. Tôi biết anh vừa hoàn thành bài thơ tặng người đẹp Thanh Hà nên tò mò muốn xem. Và tôi hoàn toàn bị chinh phục bởi  Dạ khúc Nô-en  của anh:

Đêm này đêm Chúa giáng sinh
Tình yêu tôi cũng tượng hình đêm nay 
Chúa trời giang rộng cánh tay
Trên cây thánh giá lưu đày khổ đau
Tình yêu tôi cũng nhiệm màu
Đóng đinh tôi ngàn thuở đầu trang thơ
Thiên thần cánh trắng như mơ
Trong tôi bay liệng bây giờ là em
Để trên máng cỏ diệu huyền
Sinh tôi với những ưu phiền trần gian…

Vì cuộc tình “tượng hình”đúng vào đêm Nô-en nên thi sĩ hết sức đồng cảm với Chúa Giêsu: Chúa trời giang rộng cánh tay/ Trên cây thánh giá lưu đày khổ đau… Thi sĩ cảm thấy mình cũng bị “đóng đinh” như Chúa nhưng không phải đóng đinh trên cây thánh giá mà là đóng đinh “ngàn thuở đầu trang thơ”. Một cách nói, một liên tưởng hết sức bất ngờ! Thiên thần cánh trắng như mơ/ Trong tôi bay liệng bây giờ là em!  Đây là hai câu thơ khá hay của Hải Kỳ. Những câu thơ như thế có thể tách khỏi chỉnh thể bài thơ, tồn tại độc lập trong trí nhớ người đời. Từ cái máng cỏ - nơi Chúa ra đời, Hải Kỳ suy ngẫm về mối tình “tượng hình” trong đêm Nô-en của mình: Để trên máng cỏ diệu huyền/ Sinh tôi với những ưu phiền trần gian…Hải Kỳ đang linh cảm về mối tình “sét đánh” này. Nếu Chúa bị lưu đày khổ đau trên cây thánh giá thì thi sĩ bị lưu đày bởi mối tình vô hi vọng. Dẫu biết “cái tình là cái chi chi” thi sĩ vẫn cứ “chi chi với tình”! Đó chính là sự huyền bí của tình yêu.

Hải Kỳ xa rời cõi tạm cách đây vừa tròn 5 tháng nhưng “thiên thần cánh trắng”- có gương mặt trái xoan, cặp mắt lá răm, làn da trắng mịn và đôi môi hồng thắm- đêm Nô-en năm ấy vẫn còn “bay liệng” mãi trong ký ức bạn bè.

Mai Văn Hoan (26 Lê Lợi, Huế)


Kỷ yếu Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung - P5

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 20:53
(Tham luận Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung)

Bằng tài năng và tâm huyết của mình các nhà thơ miền Trung đã góp phần thúc đẩy sự phát triển  nền thơ ca nước nhà qua các thời đại. Tìm hiểu cốt cách người miền Trung trong thơ Thạch Quỳ cũng chính là tìm hiểu bản sắc riêng của tác giả, của  từng vùng miền khác nhau. Thơ dù đổi mới, cách tân đến đâu nhưng nếu đánh mất bản sắc của mình, của quê hương mình, của dân tộc mình thì khó lòng có sức lan tỏa và sức sống lâu bền. (Nhà thơ Thạch Quỳ)

THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM BÙNG NỔ TRONG LẶNG LẼ

Thanh Thảo


Thơ miền Trung có thể dữ dội, nồng nàn như thơ Thu Bồn, có thể tỉnh táo mà day dứt như thơ Ý Nhi, lung linh u buồn như thơ Đinh Thị Như Thúy, hồn nhiên đằm thắm như thơ Mỹ Dạ…Và cũng có thể điềm tĩnh để bùng nổ trong lặng lẽ như thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Tôi đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm từ cách đây mấy chục năm, cũng đã có vài ba lần viết về thơ Nguyễn Khoa Điềm, dẫu không dám nói là đã hiểu hết thơ anh. Tôi cũng đã quen biết rồi quen thân với Nguyễn Khoa Điềm từ hơn hai chục năm nay, nhưng không dám nói là đã hiểu hết anh. Nguyễn Khoa Điềm là người kín đáo. Tôi nhớ có lần cùng đi về Dung Quất với nữ nghệ sĩ điện ảnh Trà Giang và Nguyễn Khoa Điềm, lúc đó là Bộ trưởng văn hóa, khi chỉ riêng hai chị em, chị Trà Giang nói nhỏ với tôi: “ Mình thấy ông Điềm như chả bao giờ cười.” Tôi cũng nói nhỏ với chị Trà Giang: “ Có lẽ ông ấy chưa cười chứ không phải không cười.” Đúng thế thật, vì sau đó chỉ ít phút, chị Trà Giang đã tận mắt chứng kiến anh Nguyễn Khoa Điềm…cười. Hình như sau khi tôi nói một câu gì đó. Mà hầu hết những câu kiểu đó của tôi đều bậy bạ, chả đâu vào đâu.

Mỗi lần có dịp chọn thơ cho một “show” trình diễn, tôi thường thích chọn bài thơ “ Chiều Hương giang” của Nguyễn Khoa Điềm. Tôi yêu bài thơ giản dị này, và yêu nhất là cái con người, cái “nhân vật” nhà thơ trong bài thơ bình thản đánh bạn với…con bò, trong một chiều nghi ngút cô đơn:

Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ

Bên dòng sông như chưa biết chiều tan

Tôi với nó lặng im bè bạn

Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương giang

(Chiều Hương giang)

Khi đọc đoạn thơ ấy, trong tôi hiện ra một nét cười lặng lẽ của tác giả, và tôi biết có những lúc trong đời, ta chỉ muốn thủ thỉ với…con bò hay con chó, và những lúc ấy, ta cảm thấy nhẹ lòng biết bao. Người ta nói thơ như Nguyễn Khoa Điềm là thơ hướng nội. Tôi không nghĩ có những nhà thơ hoàn toàn hướng nội hoặc hoàn toàn hướng ngoại. Nhà thơ nào cũng phải hướng nội mới làm được thơ, nếu không thì chỉ được những câu vần vè tuyên truyền hay quảng cáo. Và nhà thơ nào cũng phải có phần hướng ngoại khi muốn thơ mình có người đọc, có người chia sẻ. Vấn đề để phân biệt ở đây là có những nhà thơ chỉ hài lòng khi kiếm càng đông người hâm mộ càng tốt, và có những nhà thơ chỉ mong được một ít, thậm chí vài ba người chia sẻ, là đủ vui rồi. Có thể Nguyễn Khoa Điềm thuộc dạng “những nhà thơ thứ hai”, những người chỉ thích lặng. Khi ngồi trước bệnh xá cũ của chị Đặng Thùy Trâm trên một ngọn núi ở Đức Phổ giáp Ba Tơ, Nguyễn Khoa Điềm viết:

Chiếc hầm cũ đau như tròng mắt

Nhìn vào ta thăm thẳm, bơ vơ

(Ngày về)

Tôi bảo đảm, trong hoàn cảnh ấy, sẽ có những nhà thơ khác viết khác. Nhưng Nguyễn Khoa Điềm-một người đã quen với những căn hầm cũ ở chiến khu-lại thấy nơi cái rỗng không của một căn hầm “đau như tròng mắt” ấy hiện về cả một quá khứ chiến tranh và đôi mắt của người bạn gái cùng trường Chu Văn An đang “thăm thẳm” nhìn mình, một cái nhìn “bơ vơ”, côi cút. Như đã tới tận cùng của “cõi lặng”, và cũng không nói gì cả. Không hàm ngôn ẩn nghĩa gì cả. Chỉ đau. Và chưa chắc đã muốn chia sẻ nỗi đau ấy với ai.

Thơ không mang lại cho ta nhiều vinh quang lắm đâu, nhưng có thể quàng nỗi đau của người vào cho ta, và mang nỗi đau của ta tới cùng người. “Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng”( Hy vọng), đơn giản vì đá sống lâu hơn ta, kiên nhẫn và lặng lẽ hơn ta. Nhưng cũng cứng rắn hơn ta. Bởi phải biết cứng rắn mới học được sự mềm mỏng, và phải kiên định như đá mới cảm được hết sức mạnh của dòng nước:

Anh trôi đi cùng phù du phiêu sinh vật, những

tiếng chuông không ngày về

Những ngọn cỏ khô không nguồn gốc, những

người mẹ đắm đò, những câu mái nhì mất tích

Anh trôi đi với trận bão năm Thìn, nhịp cầu bị

đánh sập năm Thân

Những cây bèo tím

(Sông Hương)

Khi ta nói, thơ của một tác giả thuộc về dòng thơ miền Trung, thì không chỉ vì tác giả ấy quê ở miền Trung, mà còn vì khí chất của sông núi miền Trung đã hiện lên như không thể khác trong thơ của họ:

Một mùa hè trỗi những đám mây bất thường

Sừng sững như dãy phao cửa biển

(Định vị)

Cái cách hình thành và định dạng những đám mây ở miền Trung cũng khác, và khi nhà thơ “định vị” được không chỉ là “những cơn chóng mặt” như Rimbaud thi sĩ đã chỉ ra, mà còn định hình được những đám mây những cơn giông trên bầu trời, thì thơ họ dẫu không “hô phong hoán vũ” được như thầy phù thủy, cũng khiến người đọc rơi vào trạng thái ngất ngây trong thoáng chốc. Nguyễn Khoa Điềm, khi về quê đón Tết, “Đi vào đi ra/Ngồi bệt xuống thềm/Ngó mây bay trên vườn người khác/”, là đã tự mình rơi vào “trạng thái thơ” không kiểm soát, một trạng thái mà khi đó lý trí đứng xớ rớ chơi bên ngoài, còn vô thức thì “đi vào đi ra” ở bên trong. Và làm nên những tiết điệu rất riêng:

Mãi khi vầng trăng treo trước cửa

Chợt nhớ khuôn mặt hiền xót xa

Nghiêng xuống cánh đồng ngày xưa

 

Vì sao không thể yêu mến hơn ?

Vì sao không xanh tươi hơn ?

Vì sao không trong sạch hơn ?

(Trong những buổi chiều)

Người ta nói những dằn vặt trong thơ cũng là những dằn vặt có tiết điệu, là vậy. Nếu có âm nhạc trong thơ thì âm nhạc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được kìm nén tối đa, có thể gọi là “âm nhạc tối thiểu”. Một số nhà thơ lớn trên thế giới đã đi theo trường phái thơ có “âm nhạc tối thiểu này”, và ở Việt Nam tôi thấy có Văn Cao, một phần Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm.

Có một nỗi buồn

Canh cánh

Sau vai anh

Trước một tầm với

Đâu đó

Trên chiếc lá còn sống

Trong mây, ngày sau mưa

(Có một nỗi buồn)

Khi đã chọn được cho mình lối thơ tiết chế với âm nhạc tối thiểu như vậy, Nguyễn Khoa Điềm có thể khiến từng chữ trong câu thơ có được sự tự tại, như cách mà nhà thơ tự tại:

Đứng đấy tự bao giờ, bên dòng sông cũ

Con bò gặm cỏ

 

Chậm rãi

Một ít bóng đêm và ít hạt bình minh

Từng miếng một, nhai và thở

(Cỏ ngọt)

Thả lỏng hồn nhưng kiểm soát chữ và tiết nhịp của chữ, thơ Nguyễn Khoa Điềm nhiều lúc rất gần với thơ cổ điển, nhưng có lúc lại khiến ta giật mình bởi tính thời sự và đương đại của nó ẩn trong những hạt chữ kìm nén:

Những giọt nước mắt

Thật buồn

Thật lặng lẽ

Trước bức chân dung

Người lính Điện Biên vừa tròn trăm tuổi

Của một người tù.

Trận chiến Lịch Sử

Đã phá tung mọi xiềng xích ?

 

Người họa sĩ trẻ

Từ sau song sắt

Vẫn bình tâm

Dành lòng biết ơn

Không dứt

Cho một người lính già”

(Bức chân dung người lính già)

Bài thơ được kìm nén tới từng dấu chấm(.) từng dấu hỏi(?), và âm nhạc tối thiểu của nó đã giúp bài thơ bùng nổ trong tâm trí người đọc, một sự bùng nổ đi với lòng cảm phục. Đâu cần phải đại ngôn hay lắm lời, thơ mới bùng nổ!

Tôi nghĩ, thơ Nguyễn Khoa Điềm có thể đại diện cho thơ miền Trung ở độ kìm nén tối đa và âm nhạc tối thiểu đó, “như bãi mìn/vùi dưới đất nhiều năm/”( cái này là thơ tôi-TT)

Quảng Ngãi 20/09/2011

 

*****

 

CỐT CÁCH  NGƯỜI MIỀN TRUNG QUA THƠ THẠCH QUỲ - TỪ MỘT GÓC NHÌN

Mai Văn Hoan

Miền Trung là vùng đất “gió Lào cát trắng”, bão lụt triền miên; là nơi phải chịu đựng bao cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc; cũng là vùng đất có nhiều phong cảnh kỳ thú… Tất cả đó đã góp phần tạo cho con người miền Trung những đặc điểm riêng, những cốt cách riêng. Nếu như người miền Bắc lịch lãm, mềm mỏng, tao nhã; người miền Nam phóng khoáng, hào hiệp, cởi mở thì người miền Trung cứng rắn, khảng khái, thật thà. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai từng khái quát:  “Người Nghệ - Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ”. Điều đó không chỉ đúng v

TẦM NHÌN

VĂN — Viết bởi maivanhoan @ 15:25
TẦM NHÌN
 
 

  Trong chương môn Văn cấp 3 những năm 70 của thế kỷ trước có tác phẩm đề cập đến “tầm nhìn” của Nguyễn Khải. Hai nhân vật Biền và Tuy Kiền đều là cán bộ lãnh đạo nhưng có hai tầm nhìn đối lập nhau. Tuy Kiền chỉ thấy cái lợi cá nhân trước mắt còn Biền thì có tầm nhìn xa rộng hơn. Vấn đề mà nhà văn Nguyễn Khải đặt ra thời ấy cho đến nay vẫn còn là vấn đề thời sự. Nhân diễn đàn đang nóng lên với những đề xuất gây chú ý của tân  Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, tôi muốn bàn thêm đôi lời về “tầm nhìn” trong hệ thống giao thông đường bộ nước ta.

        Nếu ví đất nước là một cơ thể sống thì hệ thống đường giao thông là những mạch máu vô cùng quan trọng. Từ lâu, chúng ta đã có các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đào tạo ra hàng trăm, hàng nghìn kỹ sư, cán bộ thiết kế và thi công cầu – đường. Trong số họ không hiếm những kỹ sư, cán bộ giỏi, có tâm huyết và đã tạo dựng được cả một hệ thống đường bộ chằng chịch, liên thông góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nước nhà. Việc mở rộng đường quốc lộ 1A và thi công đường Hồ Chí Minh là thành tích đáng được ghi nhận của ngành GTVT. Nhưng mấy năm trở lại đây tai nạn giao thông đường bộ ngày một gia tăng là điều làm cho tất cả mọi người hết sức quan tâm, lo lắng. Nguyên nhân thì có nhiều: do ý thức của người tham gia giao thông, do nhu cầu lưu thông hàng hóa ngày càng cao giữa các vùng miền, do mật độ và tốc độ phát triển của các phương tiện giao thông… Và trong đó có phần chất lượng đáng báo động của hệ thống giao thông đường bộ. Phải thừa nhận hạ tầng cơ sở giao thông đường bộ hiện nay còn quá  nhiều bất cập. Trên một số tuyến đường xuất hiện những “điểm đen”, liên tục xảy ra những vụ tai nạn kinh hoàng. Theo thống kê chưa thật đầy đủ thì hàng năm cả nước có hơn 11 000 người chết vì tai nạn giao thông. Ở  xã Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình (quê tôi) số liệt sĩ hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có 165 người, cộng với số dân thường chết trong hai cuộc chiến tranh tất cả chưa đến 200 người. Nhưng số người chết vì tai nạn giao thông trong mười năm lại đây (1990 – 2010) đã hơn 400 người. Một con số khiến cho những ai có lương tâm không khỏi giật mình. Quê tôi là vùng dân cư đông đúc lại nằm ngay trên tuyến đường quốc lộ 1A, nên tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên. Dưới chân đèo Lý Hòa có thắng cảnh Đá Nhảy khá đẹp nhưng mấy năm trước đây đó là một “điểm đen” với hàng trăm vụ tai nạn giao thông vô cùng thảm khốc. Nguyên nhân chính là vấn đề “tầm nhìn” hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những kỹ sư, cán bộ thiết kế đã không tính đến chỗ chân núi choãi ra che khuất tầm nhìn. Một kiến thức hết sức sơ đẳng như vậy không hiểu vì lý do gì mà họ không tính đến. Sự thiếu “tầm nhìn” của họ đã đánh đổi hàng trăm sinh mạng. Mãi đến khi dân tình hết lời ca thán người ta mới tìm cách mở thêm một con đường tránh cho xe đi hai chiều. Đó là cái kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Thế là từ đó “điểm đen” bị xóa sổ. Nghẹo Giằng Xay và cung đường dưới chân tượng Phật Bà (ở Ngự Bình), thành phố Huế trước đây cũng là những “điểm đen”như thế. Sau khi được cải tạo lại thì những vụ tai nạn giao thông không còn xảy ra nữa.  “Điểm đen” là “cạm-bẫy-người” do chính con người cạm bẫy chứ đâu phải ma quỷ! Ở đây, có vấn đề “tầm nhìn” trong chất lượng đào tạo cán bộ, kỹ sư chuyên ngành – đặc biệt là chuyên ngành cầu – đường.
        Lĩnh vực GTVT đang đặt ra một số vấn đề khiến toàn xã hội bức xúc. Có thể nói không ngoa rằng trên thế giới, ít thấy tài xế nước nào khổ như ở nước mình: cứ mỗi chặng đường là gặp một trạm thu phí, một nhóm công an chặn đường, lòng đường vừa hẹp vừa xuống cấp nghiêm trọng, trên đường xe khách, xe con, xe tải, xe máy, xe đạp…  tranh nhau vượt ẩu, bất chấp luật lệ . Lưu thông trên những tuyến đường lộn xộn như thế, không xảy ra tai nạn mới là chuyện lạ! Tôi có dịp sang Thái Lan, đi xe tốc hành từ Noọng Khai đến U Đon dài khoảng ba trăm cây số mà chỉ mất chưa đến hai tiếng đồng hồ. Xe chạy với tốc độ 150 km/g, không hề có bóng dáng công an chặn đường, không hề có chuyện bắn tốc độ, không một trạm thu phí nào. Đường hai chiều, mỗi chiều ba làn cho mỗi loại xe, hai bên đường rất ít nhà cửa, quán xá. Đến khi nào đường quốc lộ 1A của ta mới được như nước bạn? Một công trình giao thông huyết mạch quy mô như vậy sẽ mang lại bao nhiêu điều lợi cho dân, cho nước. Bởi vậy, nếu tôi làm Bộ trưởng như ông Đinh La Thăng, tôi sẽ dồn hết tâm sức ưu tiên cải tạo, nâng cấp con đường quốc lộ 1A. Phải tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho công trình trọng điểm này. Nếu làm được điều đó trong nhiệm kỳ của mình, nhân dân sẽ suốt đời ghi nhớ công ơn của vị Bộ trưởng. Bởi công trình này không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn mà còn tránh cho đất nước thảm họa “chiến tranh” tai nạn giao thông, cướp đi mỗi năm hàng nghìn sinh mạng.
        
        Vấn đề chủ yếu là “tầm nhìn” và cái Tâm đối với dân với nước!

                                                                     Huế, 5- 11- 2011
Mai Văn Hoan
 

Giật mình đọc lại Nguyễn Hàm Ninh

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 15:20
Giật mình đọc lại Nguyễn Hàm Ninh
 

Lúc còn là một học sinh trung học tôi từng nghe tên Nguyễn Hàm Ninh qua bài Năm con sông quê hương của nhà thơ Xuân Hoàng: Vùng Thanh Thủy vẫn nguyên hòn lèn Bảng/ Nguyễn Hàm Ninh dẫn bạn đến bình văn. Kể từ đó, tôi tò mò muốn biết Nguyễn Hàm Ninh là người thế nào? Bạn ông gồm những ai? Tài văn thơ của ông ra sao? Lục tìm những tư liệu thời nhà Nguyễn, tôi được biết: ông tự Thuận Chi, hiệu Tĩnh Trai, sinh năm 1808, mất năm 1867, người làng Phù Hóa, sau dời sang làng Trung Thuần, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là làng Trung Thuần, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch).


 Ông đỗ tú tài năm 21 tuổi, đỗ Giải nguyên năm 23 tuổi; từng dạy Quốc tử giám, làm tri huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), được bổ Lang trung bộ Lễ, Án sát tỉnh Khánh Hòa…Những năm cuối đời, ông cáo quan về quê hưởng thú thanh nhàn. Do tính khí cương trực nên quãng đời làm quan của ông không mấy suôn sẻ, thăng giáng nhiều lần. Ông là bạn thân của Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm… Tác phẩm của ông gồm: Tĩnh trai thi sao (chữ Hán) và bài Phản Thúc ước (chữ Nôm).

Trước đây, tôi chưa có điều kiện nghiền ngẫm văn thơ của ông. Giờ ngồi thư thả đọc lại ông, tôi cứ giật mình, từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Có nhiều giai thoại về Nguyễn Hàm Ninh, trong đó nổi tiếng nhất là giai thoại liên quan đến vua Tự Đức. Một hôm, vua Tự Đức mở tiệc chiêu đãi. Lúc nhà vua đang ăn thì bỗng kêu lên: “Trẫm cắn phải lưỡi đau quá! Các khanh hãy làm thơ vịnh về sự cố này nhưng cấm không được nhắc đến hai từ lưỡi và răng. Ai làm hay trẫm sẽ ban thưởng”. Nghe nhà vua nói vậy, các quan văn võ có mặt trong bữa tiệc đều cố vắt óc suy nghĩ... Một lát sau, Nguyễn Hàm Ninh đứng dậy, xin phép  đọc bài thơ ông vừa làm xong:

Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh;
Nhĩ sinh vi hậu, ngã vi huynh.
Đồng thời cộng hưởng trân cam vị;
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.

Dịch thơ:

Ta ra đời trước, chú chưa sinh;
Chú phận làm em, ta làm anh.
Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng chung hưởng;
Cốt nhục mà sao nỡ dứt tình.

Nguyễn Hàm Ninh vừa đọc xong bài thơ,  vua Tự Đức mặt đỏ bừng bừng, phán rằng: “Thơ rất hay, trẫm thưởng cho nhà ngươi mỗi câu một lạng vàng. Nhưng ý thơ thâm hậu nên nhà ngươi phải chịu phạt, mỗi câu một roi!”. Mẩu giai thoại này phần nào đã thể hiện tài năng, khí phách của Nguyễn Hàm Ninh. Cái khó là không được dùng từ lưỡi và răng thế mà ông vẫn tìm được cách nói rất phù hợp với sự cố răng cắn lưỡi, lại còn ngầm ám chỉ cả việc vua Tự Đức ra lệnh giết chết thái tử Hồng Bảo là anh cùng cha khác mẹ. Điều làm tôi giật mình là ông dám chạm đến chỗ “húy” của nhà vua trước mặt bá quan văn võ. Phải là người có dũng khí, dám coi thường tính mạng của mình mới làm một việc động trời như vậy!

alt

Mộ của Nguyễn Hàm Ninh ở Quảng Lưu, Quảng Trạch

Đối với vua Nguyễn Hàm Ninh còn không sợ huống nữa là bọn quan lại ở địa phương. Thời cáo quan về quê, ông dựng một ngôi nhà cỏ dưới chân núi, gọi là Cừ khê thảo đường (Ngôi nhà cỏ ở khe Cừ): Khai song thanh hiểu khan vân khí/ Xuất quách tà dương tiện điểu hoàn (Sáng sớm mở cửa đã thấy mây khói/ Bóng chiều vừa tắt ngoài thành chim liền bay về). Nói là giấu mình nơi núi non khe suối để tìm lấy sự an nhàn (Ẩn cốc thê khâu tự tại nhàn) nhưng tâm ông đâu có nhàn. Cái bọn quan lại ở địa phương ông thời ấy vừa dốt nát, vừa hống hách làm ông hết sức căm ghét. Ông viết bài  Phản Thúc ước, thẳng thắn vạch trần bộ mặt thật của bọn chúng. Có kẻ nhờ gian lận mà đỗ đạt, khi làm quan thì lên mặt với dân: Giấy cũ nhàm tay biếng dở, đến khoa kỳ đem quyển lượt xem chơi/ Giường cao vếch mảy ngồi ngay, chờ hương ẩm, chặt thủ heo vác tới. Bọn chúng lợi dụng việc phân chia điền thổ, chiếm dụng đất công, dân tình hết lời ca thán mà quan trên vẫn tảng lờ vì đã nhận hối lộ: Thước ruộng tấc vườn là của nước, bỏ đi đặt lại, chẳng phân chi sao xếp sổ làm thinh/ Đồng tiền lượng bạc há riêng ai, trang nọ tờ kia, mưu tự tệ lại tìm đường mà chấy (chiếm đoạt). Có những câu trong Phản Thúc ước, đến bây giờ đọc lại tôi không khỏi giật mình: Mỡ dân rán đã đầy xanh/ Da đất quét vừa chật đạy. Bọn chúng cậy quyền, cậy thế kết bè, kết đảng tìm đủ mọi cách đục khoét của dân. Bút pháp của Nguyễn Hàm Ninh hết sức linh hoạt. Với vua Tự Đức vốn sính chữ nghĩa, ông dùng cách nói bóng gió. Nhưng với Phản Thúc ước “vì muốn con trẻ đàn bà nghe được rõ” nên ông đã chọn cách viết “nôm na pha mấy giọng nhà quê”. Bởi thế mà Phản Thúc ước  của giải nguyên Nguyễn Hàm Ninh lan truyền bằng miệng khá rộng rãi trong dân chúng thời đó.

Mặc dù ẩn mình trong khe núi, nhưng vốn tính phóng khoáng, lãng mạn nên thỉnh thoảng ông lại vào kinh đô Huế thăm cảnh cũ người xưa. Những chuyến viếng thăm ấy đã gợi hứng cho ông viết một số bài thơ tình mà đến Cao Bá Quát - vốn nổi tiếng khó tính về thơ, cũng phải khen rằng: “cao bộ Trung Đường, phủ thị chư tử” (thơ hay như của thời Trung Đường, vượt hẳn các nhà khác); tài thơ như Tùng Thiện Vương cũng phải nể phục (theo Lương An, tạp chí Sông Hương, số 10 -  năm 2010). Một trong những bài thơ tình của ông khiến tôi phải giật mình là bài Ức mai:

Lâm đường tạc dạ sóc phong xuy
Tiểu các thanh hàn độc tọa trì
Địch lý quan sơn sầu cựu khúc
Thủy biên ly lạc nhận tiền kỳ
Hương nam tuyết bắc vô phương tấn
Nguyệt địa vân giai hữu mộng ti
Dục bả tân từ viễn tương tặng
Mỹ nhân uyển tại thủy chi my

Tôi phỏng dịch:

Đêm qua, gió bấc thì thào
Một mình gác nhỏ lạnh vào thấu xương
Vẳng nghe tiếng sáo mà thương
Bờ sông, thuở ấy vẫn thường bên nhau
Hương nam, tuyết bắc còn đâu
Trăng sân, mây biếc… mộng sầu biệt ly
Xa xôi muốn gởi thơ đi
Bên hồ người ngọc tức thì hiện ra!

Nhà thơ Lương An cho biết:  bài thơ này được Nguyễn Hàm Ninh sáng tác khi công chúa Mai Am - người mà ông thầm yêu trộm nhớ đã lấy Thân Trọng Dị (một vị quan to trong triều). Trở lại Phủ Tùng Thiện Vương, không còn bóng dáng người đẹp, ông cảm thấy vô cùng trống trải. Xuyên suốt bài thơ là nỗi thương nhớ công chúa Mai Am. Ngay cái tiêu đề Ức mai cũng nói lên điều đó. Bài thơ này đã được công chúa Mai Am trân trọng đưa vào  Diệu Liên thi tập của mình. Dám làm thơ “ghẹo” cả công chúa, hơn nữa chồng công chúa lại là một vị quan to trong triều, thiết nghĩ từ xưa đến nay ít ai bạo gan như Nguyễn Hàm Ninh.

Có lần, vào tiết thanh minh, nhà thơ Miên Thẩm ra Quảng Bình tìm thăm Nguyễn Hàm Ninh. Hai ông cùng đàm đạo văn chương thế sự. Trong câu chuyện, Miên Thẩm báo tin cho ông biết: “Tàu Tây dương đang ngấp nghé ngoài biển đông, rắp tâm xâm lược nước ta, triều đình đã cử tướng tài chuẩn bị đối phó”. Nguyễn Hàm Ninh bèn rủ bạn cùng trèo lên một ngọn núi khá cao ở Lệ Sơn (thuộc xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình) để nhìn ra biển đông. Đứng trên đỉnh núi, ông phóng bút làm ngay bài thơ rồi dõng dạc đọc cho bạn nghe:

Cổ thú yên thâm túc vũ dư,
Nham hoa vô tế nhiễu khâm cư.
Thiên phong vãn chiếu liên bình lục,
Vạn lý phù vân quyển thái hư.
Nam quốc sơn hà chung bất động,
Tây nhung kỹ lãng dục hà như?
Tự văn cửu bệ cần thôi cốc],
Nhật vọng Cam Tuyền tấu tiệp thư.
 (Lệ Sơn xuân vọng)
            
Cụ Nguyễn Tú phỏng dịch:
Mưa xong, đồn cũ khói sương sa
Hoa núi bao quanh thân áo ta
Ráng chiếu ngàn non xuyên cỏ nội
Mây bay muôn dặm suốt trời tà.
Núi sông nước Việt không lay chuyển
Giặc cỏ phương Tây muốn cướp a?
Nghe nói Chín Tầng đà cử tướng
Hằng mong thắng trận báo tin ra.

Trong những tháng ngày tình hình biển đông đang nóng lên vì sự khiêu khích trắng trợn của thế lực bánh trướng nước ngoài, đọc những dòng thơ này của Nguyễn Hàm Ninh, chúng ta như được tiếp thêm sức mạnh. Sự khẳng định: “Nam quốc sơn hà chung bất động” (Sông núi nước Nam không lay chuyển) như một lời thề bất tử, một niềm tin sắt đá của toàn dân tộc mỗi khi có giặc ngoại xâm.
                                                        
Huế, tháng 8 – 2011

Mai Văn Hoan (26 Lê Lợi, Huế) 
       

 


CỐT CÁCH NGƯỜI MIỀN TRUNG QUA THƠ THẠCH QUỲ

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 20:46

CỐT CÁCH NGƯỜI MIỀN TRUNG QUA THƠ THẠCH QUỲ

                                                                         Mai Văn Hoan. 

(Tham luận đọc tại Hội thảo Thơ hiện đại Việt Nam - nhìn từ miền Trung ... )

 
Miền Trung là vùng đất “gió Lào cát trắng”, bão lụt triền miên; là nơi phải chịu đựng bao cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc; cũng là vùng đất có nhiều phong cảnh kỳ thú… Tất cả đó đã góp phần tạo cho con người miền Trung những đặc điểm riêng, những cốt cách riêng. Nếu như người miền Bắc lịch lãm, mềm mỏng, tao nhã; người miền Nam phóng khoáng, hào hiệp, cởi mở thì người miền Trung cứng rắn, khẳng khái, thật thà. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai từng khái quát: “Người Nghệ - Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ”. Điều đó không chỉ đúng với người dân Nghệ - Tĩnh mà rất đúng với người dân miền Trung nói chung. Nét riêng này đã ảnh hưởng ít nhiều đến sáng tác của các tác giả gắn bó khăng khít với mảnh đất miền Trung, trong đó có Thạch Quỳ.   
Nhà thơ Thạch Quỳ tên thật là Vương Đình Huấn, sinh năm 1941, tại làng  Đông Bích, dưới chân núi Quỳ Sơn (dân địa phương gọi là rú Cuồi) thuộc xã Trung Sơn, Đô Lương, Nghệ An, trong một gia đình trí thức Nho học. Ông nội nhà thơ  thuộc dòng dõi khoa bảng, ông ngoại  từng thi đỗ ba khoá tú tài,  bà ngoại và mẹ là cả một kho tàng văn học dân gian. Cho đến nay, Thạch Quỳ đã cho ra mắt 8 tập thơ: Sao và đất (in chung, 1967); Tảng đá nhành cây (1973); Nguồn gốc cơn mưa (thơ thiếu nhi 1978); Con chim Tà Vặt  (1985)); Cuối cùng vẫn một mình em (1996); Đêm giáng sinh ((2004). Tuyển thơ Thạch Quỳ (2009); Bức tượng (2010).  Anh là một trong những tên tuổi sáng giá của thế hệ những cây bút trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và vững bước trên con đường thi ca đầy chông gai cho đến bây giờ.

Thời niên thiếu, anh vừa đi học vừa phải chăn trâu, cắt cỏ dưới chân núi Quỳ. Cái bút danh Thạch Quỳ sinh ra từ đó (Thạch Quỳ là tảng đá ở núi Quỳ). Những vần thơ đầu tiên anh ngồi viết trên tảng đá ấy là những vần thơ bắt chước những bài hát đồng dao của lũ trẻ chăn trâu quê anh: Nhổ lác nhổ từng cây/ Nhổ năn măn từng rễ/ Lưng cúi gập suốt ngày/ Bắp chân đầm máu đĩa… (Bài hát của những người nhổ cỏ năn, cỏ lác ở vùng đồng chiêm trũng). Nếu không phải là người trong cuộc chắc không thể viết được những câu thơ giàu chất hiện thực như thế. Anh kể: thời đó, anh cùng với nhà thơ Vương Trọng từng đội những giành phân đầy, bụng đói cồn cào, cố hết sức leo dốc, vượt qua đỉnh núi Quỳ. Có lẽ phải trải qua những tháng năm khó khăn ấy mà sau này, khi viết về cái nghèo, cái đói hiếm nhà thơ nào ở xứ ta diễn tả sinh động như anh, hóm hỉnh như anh, thấm thía và sâu sắc như anh: Cái nghèo đội nón cời và nhón chân từng bước/ Cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi. Anh nhân cách hóa cái nghèo thành một kẻ vô cùng ranh mãnh: Mày núp trong vừng trán mẹ răn reo/  Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ / Mày luồn lọt qua trăm ngàn mối chỉ/ Để nằm trong mảnh vá áo con ta/ Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến/ Bò nôn nao trong ruột đói của ta… Anh nhận ra đằng sau cái nghèo là những thế lực vô cùng độc ác: Cái nghèo có nọc/ Đốt cha ông từ thuở chẳng chăn màn (Cái nghèo). Chính bọn chúng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái nghèo, cái đói của dân. Nhưng người dân quê anh nói riêng và người miền Trung nói chung không cam chịu cảnh nghèo. Họ cố tìm đủ mọi cách để thoát khỏi đói nghèo. Cái mà nhà nghiên cứu Đặng Thái Mai đúc kết “tằn tiện đến cá gỗ” là muốn nói đến nghị lực dùi mài kinh sử của những ông đồ xứ Nghệ. Thạch Quỳ cũng đã thể hiện cái ý chí, cái nghị lực phi thường ấy theo cách riêng của mình: Lòng viên sỏi vẫn giữ màu máu đỏ/ Núi nghiêng vai vác con đường lên (Tặng những cô gái đập đá bên đường không tên); Giọt mưa gom hạt bụi hóa phù sa (Gom nhặt trên bãi bom B.52); Nửa phần đời chong mắt đèn xó tối/  Nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên (Nửa phần đời)… Những nhà thơ thành danh quê anh phần lớn định cư ở thủ đô, riêng anh vẫn bám trụ trên mảnh đất Nghệ An một cách kiên cường, gan góc. Bàn bè chí cốt của anh nhiều lần khuyên và tạo điều kiện để gia đình anh “dời đô”, song anh vẫn một mực chối từ. Về con  người Thạch Quỳ, nhà thơ Võ Văn Trực nhận xét: Vì yêu quê đến câu nệ, đến "cố chấp”, anh cố giữ được bản tính của quê hương đôi lúc gàn dở và cực đoan - người ta thường gọi là "cái gàn của anh đồ Nghệ”.  “Bản tính của quê hương” mà nhà thơ Võ Văn Trực nói đến ở đây cũng chính là cốt cách của người miền Trung. Những giai thoại về cái gàn của “ông đồ nghệ Thạch Quỳ” đã phần nào thể hiện bản tính thẳng thắn, khẳng khái của những con người ở vùng đất từng được mệnh danh là “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Một bạn đồng nghiệp của tôi kể rằng: Thời mới chia tỉnh (1991), các nhà văn Xuân Hoài, Đức Ban… trở về Hà Tĩnh. Lãnh đạo Hội Văn nghệ Nghệ An chỉ còn lại Dương Huy và Thạch Quỳ. Nhà thơ Thạch Quỳ được phân công giữ chức  Thường vụ trực. Ông Hồ Phi Phục (lúc đó làm Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy) vốn ngưỡng mộ tài năng thơ ca và bản tính thẳng thắn, cương trực của anh nên gới ý cho Mặt trận Tổ quốc VN tỉnh giới thiệu anh vào danh sách đề cử đại biểu Quốc hội (danh sách 3 người ngoài đảng được MTTQVN Nghệ An giới thiệu hồi đó gồm: Thạch Quỳ, Tạ Quang Hải và Lê Duy Nguyên). Nhà thơ Thạch Quỳ từ chối mãi không được. Hôm lấy ý kiến cử tri tại dãy nhà C/9, khu tập thể Quang Trung, anh kiếm cớ không đến tham dự bởi nghĩ rằng sự có mặt của mình sẽ khiến bà con e ngại. Quả đúng như vậy! Nhờ sự vắng mặt của anh mà bà con phát biểu về anh hết sức thoải mái. Bà con thừa nhận anh là người có tài, cương trực, thẳng thắn nhưng chưa thật hòa đồng; thường xuyên không tham gia làm vệ sinh cầu thang ngày chủ nhật hàng tuần; ít đi thăm hỏi bà con khu phố trong những dịp lễ tết… Khi nghe ông Chủ tịch Mặt trận TQVN tỉnh thông báo lại ý kiến cử tri, anh thở phào nhẹ nhõm và xác nhận bà con góp ý hoàn toàn đúng. Anh bị gạch tên khỏi danh sách đề cử bởi những lý do có thể nói là hết sức vớ vẩn. Cũng vì những lý do hết sức vớ vẩn ấy mà Quốc hội bỏ sót một đại biểu tài năng, một tiếng nói thẳng thắn, trung thực. Cái bản tính thẳng thắn, khẳng khái, cương trực của anh không chỉ được thừa hưởng từ gen di truyền mà còn được thừa hưởng từ các bậc tiền bối vùng quê Nghệ - Tĩnh như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu…
Đọc lại toàn bộ thơ Thạch Quỳ, điều dễ nhận nhất là cái khí chất mạnh mẽ và đầy bản lĩnh của một cây bút từng trải:  Trơ trơ tảng đá/ Đá đổ mồ hôi/ Biết hay không biết/ Lầm lì mồ côi (Tảng đá); Cả cái chết đợi chờ tôi trước mặt/ Hù dọa tôi, tôi chấp nhận lâu rồi. Đó cũng là khí chất, bản lĩnh của một số nhà thơ miền Trung như Phùng Quán (Dù ai cầm dao dọa giết/ Cũng không nói  ghét thành yêu); Hải Kỳ (Tôi là tôi như thế tự ngày xưa); Hồng Nhu (…nguyện làm cây sét đánh/ Chết trong tươi xanh và ương ngạnh đâm chồi)…  Thạch Quỳ là một con người đầy kiêu hãnh – một sự kiêu hãnh hết sức chính đáng. Bởi anh nói rất trung thực bản tính và tài năng của mình: Tôi đầy ứ, thẳng căng, tôi mạnh khỏe/ Tôi cao hơn đất đá mọi công trình/ Tôi không phải sơ đồ bản vẽ/ Tôi cao hơn người máy, thần linh” (Tôi); Toàn bộ loài cây – một cau mọc thẳng/ Toàn bộ loại chim – một cò thân trắng (Đêm vườn rừng).  Đọc những câu thơ này, tôi chợt nhớ đến Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ: Trong triều ai ngất ngưởng bằng ông! Đó là cái ngất ngưởng, cái kiêu hãnh của những người chân tài. Thật ra thì Thạch Quỳ rất tự biết mình: Không bé nhỏ tầm thường, không vĩ đại/ Có thể vứt đi trong xó tối u buồn / Có thể đứng trên đôi chân vững chãi/ Tôi một mình, tôi lớp lớp triều dâng…(Tôi).  Mặc dù trải qua bao gian nan, thử thách song anh vẫn không nguôi khát vọng: Từng đối mặt với bạo tàn, chết chóc / Máu trào tuôn, sẹo đóng tự trong hồn / Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết / Nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn. Anh khảng khái tuyên bố: Những đau khổ không làm tôi gục xuống (Tôi). Có người nói đùa: ruột Thạch Quỳ còn thẳng hơn ruột ngựa, tính cách Thạch Quỳ còn rắn hơn cả những tảng đá ở núi Quỳ! 
Thạch Quỳ không chỉ có thế. Anh là nhà thơ của những suy tư, trăn trở: Bàng hoàng giữa một ngày/ Mình sống hay chẳng sống?”(Không đề); Nghìn năm mưa đã từng mưa/ Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào? (Lời nghìn năm); Tôi chờ ai nữa? Mùa thu rộng/ Gió thả bên trời lá liễu bay (Mây trắng mùa thu)… Anh là nhà thơ của những triết lý, chiêm nghiệm: Lưỡi gươm ròng ròng máu tươi/ Nước mắt ướt đầm yên ngựa/  Chỉ có đất với trời và cỏ/  Hiểu đường đi của giọt máu người” (Qua đền Cuông ghi chuyện cũ); Cụ đi tìm chân kinh/ Ở thứ kinh không chữ (Bên mộ Nguyễn Du); Với Lan Châu ngấn sóng ánh trên tường/  Luôn luôn động theo nhịp trời, nhịp biển (Trở lại Lan Châu); Cái nghèo xơ trên bộ cánh làm sang/  Cái nghèo xác lại nằm trơ đáy đĩa (Cái nghèo)… Anh còn là nhà thơ của tình yêu lứa đôi: Trời đã tết. Khói xanh mờ bụi nước/ Góc vườn con, hoa mận đã đơm khuy/ Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc/ Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về (Đợi em ngày giáp tết); Anh yêu em hơn thần thánh yêu nhau/ Một khẽ chạm tay, rung toàn cơ thể (Không đề); Đó là chiều nắng nhạt lá thông rơi/ Đó là sớm kim chi màu cỏ biếc. Tôi trở lại sau mười năm cách biệt/ Bên em trước cỏ lặng yên ngồi (Huế)… Nhưng theo tôi: cái cứng rắn, cái thẳng thắn, cái khẳng khái trong thơ Thạch Quỳ thể hiện cốt cách của người miền Trung rõ nét hơn cả. Điều đó đã góp phần quan trọng giúp cho thơ anh có sức lan tỏa và sức sống lâu bền.
Mảnh đất miền Trung là mảnh đất giàu truyền thống thơ ca. Nhiều nhà thơ tài danh đã sinh ra trên mảnh đất này. Thời trung đại có Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tùng Thiện Vương, Nguyễn Hàm Ninh… Thời Thơ Mới có Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư… Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Hữu Loan, Phùng Quán, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… Bằng tài năng và tâm huyết của mình các nhà thơ miền Trung đã góp phần thúc đẩy sự phát triển  nền thơ ca nước nhà qua các thời đại. Tìm hiểu cốt cách người miền Trung trong thơ Thạch Quỳ cũng chính là tìm hiểu bản sắc riêng của tác giả, của  từng vùng miền khác nhau. Thơ dù đổi mới, cách tân đến đâu nhưng nếu đánh mất bản sắc của mình, của quê hương mình, của dân tộc mình thì khó lòng có sức lan tỏa và sức sống lâu bền.
M.V.H.
                                                           Trại viết Tam Đảo, tháng 9 – 2011

Gặp gỡ giao lưu thơ tại trường Đại học Hồng Đức (Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung)

BÀI CỦA BẠN — Viết bởi maivanhoan @ 22:36

Gặp gỡ giao lưu thơ tại trường Đại học Hồng Đức (Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung)

Chủ nhật - 09/10/2011 15:49

Tối ngày 8-10-2011 trong khuôn khổ Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung, các nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học về dự hội thảo đã có cuộc gặp gỡ và giao lưu với công chúng yêu thơ tại trường Đại học Hồng Đức (Tỉnh Thanh Hóa). Xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh trong buổi giao lưu, sinh hoạt thơ cảm động này.

alt

 

 

alt

 

Trước buổi gặp gỡ giao lưu là một số tiết mục văn nghệ chào mừng của thầy trò trường Đại học Hồng Đức.

 

7h30' PM buổi gặp gỡ giao lưu chính thức bắt đầu

 

Nhà văn Kiều Vượng – Chi hội trưởng Chi hội nhà văn Thanh Hóa tuyên bố khai mạc đêm giao lưu thơ.

 

GS. TS Lê Văn Trưởng - phó hiệu trưởng trường Đại học Hồng Đức phát biểu chào mừng buổi giao lưu thơ.

 

Nhà thơ Văn Công HùngTS Hỏa Diệu Thúy cặp MC của đêm giao lưu.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói về sự lao động sáng tạo trong việc sáng tác thơ, về vùng quê làng Chùa – một “làng thơ” có truyền thống. Sau đó đọc bài thơ: “Bài hát về cố hương”.

 

Nhà thơ Vũ Quần Phương chia sẻ những quan điểm của nhà thơ về vấn đề thơ hiện đại và hiện đại thơ.

 

PGS. TS Phan Trọng Thưởng – viện trưởng Viện văn học Việt Nam trao đổi về tiến trình cách tân thơ Việt Nam và những cuộc tranh luận về đổi mới thơ đang diễn ra tại Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung.

 

Nhà văn Đình Kính, cựu chiến binh, sỹ quan hải quân – tác giả kịch bản của bộ phim “Chủ tịch tỉnh” và bộ phim “Huyền thoại tàu không số” tâm sự về nghề viết văn và nghề viết kịch bản phim truyền hình.

 

Nhà văn Thái Bá Lợi nói về cuốn tiểu thuyết mới của ông – Minh sư.

 

 

Tiếp theo chương trình văn nghệ

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú đọc bài thơ “Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển”.

 

alt

Nữ sỹ Khánh Mai đọc bài thơ “Hà Nội mùa đông đầu thế kỷ”.

 

Nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo đọc bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi” và kể về những trường hợp ông đã thành công khi phổ nhạc các bài thơ của đồng đội: Làng quan họ quê tôi (thơ Nguyễn Phan Hách), Khúc hát sông quê (Thơ Lê Huy Mậu).

 

alt

Một nhà thơ của vùng đất Thanh Hóa - Nhà thơ Văn Đắc đọc thơ.

 

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đọc thơ trong đêm giao lưu.

 

alt

Nhà thơ Hồng Vinh – Chủ tịch Hội đồng Lý luận văn học nghệ thuật TW đọc thơ.

 

Nhà thơ Trần Quang Quý đọc thơ.

 

Cây lục bát của xứ Thanh – Nhà thơ Huy Trụ đọc thơ.

 

alt

Nhà thơ Thạch Quỳ đọc thơ.

 

Nhà thơ Vương Trọng đọc thơ.

 

Nhà thơ Trần Chấn Uy đọc thơ.

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan với bài thơ “Nữ sinh Đồng Khánh”.

 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến kết thúc với bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển

 

Đêm giao lưu kết thúc vào lúc 9h30' PM.

Nguồn: Vanvn.net


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»

Powered by vnWeblogs