Nữ Sinh Đồng Khánh Bây Giờ Là Em!

NGOÁI NHÌN NĂM CŨ…

BÀI CỦA BẠN — Viết bởi maivanhoan @ 17:37
NGOÁI NHÌN NĂM CŨ…
Trần Đăng Khoa
 

 


Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch, Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365 ngày, với 8760 giờ - Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới - thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở LiBi, cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn mười vạn người Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở LIBI. Lần đầu tiên, chúng ta đã tổ chức thành công đưa hơn mười vạn người Việt Nam thoát khỏi lửa đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong năm vừa qua.
Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên sân khấu…Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa. Nhìn lại những thước phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có đến một ngàn bảy trăm đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác gia lớn, Chủ tịch của cả hai hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên ngành. Đó là điều rất không bình thường.
Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc việt với những tài năng lớn, họ yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ còn đi trước cả thời đại. Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954, Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh - ấy là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976, Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên. Bây giờ chúng ta mới học Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ, hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”. Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi…và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không tìm được hài cốt.
Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời - Sữa nuôi phần xác. Hát nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa thì hiểm họa khôn lường. Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng tượng được. Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên  Nguyễn Đức Nghĩa đã làm ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở lứa tuổi vị thành niên. Rồi ít ngày nữa, vụ án sẽ được đem ra xét xử. Theo Bộ Luật hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao? Nếu Luyện thoát được án tử hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi. Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người, giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.
Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời ngăn chặn. Năm nay là năm CON RỒNG. Chúng ta đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và phát triền. Cầu mong năm nay, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ và lòng nhân ái mà không có máu người…

Nguồn: VOV online

 


CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI HUẾ TẤT NIÊN SỚM

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:44

09 January, 2012 11:36

CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI HUẾ TẤT NIÊN SỚM

Nhà văn TRần THùy Mai tặng hoa mừng thọ 80 của Hồng Nhu

CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TẠI HUẾ TẤT NIÊN SỚM

Mai Văn Hoan

 

 


        Lý do mà chủ tịch Chi hội Nguyễn Khắc Phê đề xuất tất niên sớm là mừng Phạm Phú Phong vừa được kết nạp. Buổi tất niên tổ chức ngay tại tư gia Phạm Phú Phong, trên đường Điện Biên Phủ, tp Huế. Đúng 10 giờ sáng, anh chị em trong Chi hội đã có mặt tương đối đầy đủ. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ đang có chuyến công tác ở Huế cũng đến chung vui. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mang tặng mỗi người một tập Thơ Nguyễn Khoa Điềm tuyển tập 40 năm do tác giả chọn (NXB Văn học) vừa mới ấn hành. Trần Thùy Mai thay mặt anh em tặng hoa  nhà văn Hồng Nhu lên lão 80. Nhà văn Hồng Nhu thay mặt anh em tặng hoa hội viên mới Phạm Phú Phong. Nhà thơ Hữu Thỉnh từ Hà Nội  điện thoại vào chúc mừng.
        Trước khi vào tiệc, chủ tịch Nguyễn Khắc Phê tổng kết vắn tắt hoạt động của Chi hội trong năm qua. Ấn tượng nhất là chuyên đi thực tế và giao lưu với các bạn nhà văn Lào ở thủ đô Viên – chăn.  Lâm Thị Mỹ Dạ và Hồng Nhu hoàn thành Tuyển tập. Nguyễn Khắc Phê tái bản hai bộ tiểu thuyết Chỗ đứng người kỹ sư, Đường đỏ đá xanh. Nguyễn Quang Hà xuất bản  Con nợ (tiểu thuyết),  Mai Văn Hoan xuất bản Rượu quê (thơ). Ngô Minh xuất bản Cổ tích tàu không số (ký)… Chi Hội liên kết tổ chức khá thành công Hội thảo tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, giới thiệu sách Cổ tích tàu không số của Ngô Minh…Các nhà văn Hồng Nhu, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khắc Phê có tên trong danh đề cử Giải thưởng Nhà nước. Nhà văn Trần Thùy Mai nhận Giải Văn chương của  Hội Hữu nghị San francisco – tp Hồ Chí Minh. Chi Hội bàn phương án chuyến đi thực tế đảo Trường Sa và dự trại viết ở Côn Đảo sắp tới.
     
       Buổi tất niên của Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế diễn ra trong không khí hết sức vui vẻ và ấm cúng.

     


Nô - en với Hải Kỳ

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:38
Mai Văn Hoan: Nô - en với Hải Kỳ
[24.12.2011 16:57]
 


Mỗi năm sắp đến Nô-en là tôi lại nhẩm đọc những câu thơ rất đỗi tài hoa của Hải Kỳ: Đêm này đêm Chúa giáng sinh/ Tình yêu tôi cũng tượng hình đêm nay... Hải Kỳ làm bài thơ Dạ khúc Nô-en cách đây đã mấy chục năm mà tôi cứ ngỡ như anh vừa viết hôm qua. Kỷ niệm bạn bè vẫn còn tươi rói trong tôi.

Thời đó, Hoàng Vũ Thuật, Ngô Minh, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty, Hải Kỳ và tôi thường “lang thang cùng Huế”. Nhóm bạn thơ chúng tôi đứa nào cũng lãng mạn nhưng mỗi đứa lãng mạn mỗi cách. Hải Kỳ là chàng thi sĩ si tình rất dễ yêu nhưng chóng chán. Anh từng thú nhận: Với người đẹp tôi thường để ý/ Và nhiều khi khen ngợi thành lời. Quen biết người đẹp là cái cớ để Hải Kỳ làm thơ. Đôi khi chỉ mới gặp người đẹp một thoáng, anh đã có thơ tặng ngay. Chúng tôi hết sức khâm phục sự nhanh nhạy của anh.

Tôi còn nhớ năm 1979, Hải Kỳ được Ty Giáo dục Bình Trị Thiên mời vào Huế luyện thi học sinh giỏi văn cấp 2 toàn quốc đúng dịp Chúa giáng sinh. Thời đó, những người mới từ Quảng Bình vào Huế như chúng tôi rất háo hức đi xem Nô-en. Nghe người ta đồn vào đúng nửa đêm ở nhà thờ Phú Cam có màn trình diễn của những con chiên vô cùng xinh đẹp tái hiện lại cảnh Chúa Giêsu ra đời trên máng cỏ, thế là chưa đến sáu giờ chiều, nhóm bạn chúng tôi đã hòa vào dòng người hiếu kỳ đang nườm nượp đổ về đường Nguyễn Trường Tộ. Lực lượng công an phải làm việc hết sức vất vả.  Chúng tôi tình cờ gặp nhóm sinh viên khoa văn Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Khoa học Huế) cũng đang đi  Nô-en. Cô sinh viên tên là Thanh Hà có gương mặt trái xoan, cặp mắt lá răm, làn da trắng mịn và đôi môi hồng thắm đã hút hồn Hải Kỳ. Chúng tôi rất muốn vào bên trong  nhưng đám đông chen lấn, xô đẩy nhau ghê quá, đành đi dạo mấy vòng quanh khuôn viên nhà thờ rồi tìm một quán cà phê vắng người trên dốc Phú Cam nói chuyện, đọc thơ.Trong nhóm chúng tôi, Hải Kỳ đọc say sưa nhất. Chắc là thi sĩ muốn trổ tài trước người đẹp?

Nhà thơ Hải Kỳ (trái) và nhà thơ Mai Văn Hoan chụp năm 1979

Đêm ấy, về căn phòng như “tổ chim treo” ở trường Trưng Trắc (Hai Bà Trưng), tôi và Hải Kỳ cứ trằn trọc mãi. Gần bốn giờ sáng, tôi thấy Hải Kỳ ngồi dậy, rón rén  đến bàn, lấy giấy bút, viết liền một mạch, không hề tẩy xóa. Tôi biết anh vừa hoàn thành bài thơ tặng người đẹp Thanh Hà nên tò mò muốn xem. Và tôi hoàn toàn bị chinh phục bởi  Dạ khúc Nô-en  của anh:

Đêm này đêm Chúa giáng sinh
Tình yêu tôi cũng tượng hình đêm nay 
Chúa trời giang rộng cánh tay
Trên cây thánh giá lưu đày khổ đau
Tình yêu tôi cũng nhiệm màu
Đóng đinh tôi ngàn thuở đầu trang thơ
Thiên thần cánh trắng như mơ
Trong tôi bay liệng bây giờ là em
Để trên máng cỏ diệu huyền
Sinh tôi với những ưu phiền trần gian…

Vì cuộc tình “tượng hình”đúng vào đêm Nô-en nên thi sĩ hết sức đồng cảm với Chúa Giêsu: Chúa trời giang rộng cánh tay/ Trên cây thánh giá lưu đày khổ đau… Thi sĩ cảm thấy mình cũng bị “đóng đinh” như Chúa nhưng không phải đóng đinh trên cây thánh giá mà là đóng đinh “ngàn thuở đầu trang thơ”. Một cách nói, một liên tưởng hết sức bất ngờ! Thiên thần cánh trắng như mơ/ Trong tôi bay liệng bây giờ là em!  Đây là hai câu thơ khá hay của Hải Kỳ. Những câu thơ như thế có thể tách khỏi chỉnh thể bài thơ, tồn tại độc lập trong trí nhớ người đời. Từ cái máng cỏ - nơi Chúa ra đời, Hải Kỳ suy ngẫm về mối tình “tượng hình” trong đêm Nô-en của mình: Để trên máng cỏ diệu huyền/ Sinh tôi với những ưu phiền trần gian…Hải Kỳ đang linh cảm về mối tình “sét đánh” này. Nếu Chúa bị lưu đày khổ đau trên cây thánh giá thì thi sĩ bị lưu đày bởi mối tình vô hi vọng. Dẫu biết “cái tình là cái chi chi” thi sĩ vẫn cứ “chi chi với tình”! Đó chính là sự huyền bí của tình yêu.

Hải Kỳ xa rời cõi tạm cách đây vừa tròn 5 tháng nhưng “thiên thần cánh trắng”- có gương mặt trái xoan, cặp mắt lá răm, làn da trắng mịn và đôi môi hồng thắm- đêm Nô-en năm ấy vẫn còn “bay liệng” mãi trong ký ức bạn bè.

Mai Văn Hoan (26 Lê Lợi, Huế)


Kỷ yếu Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung - P5

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 20:53
(Tham luận Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung)

Bằng tài năng và tâm huyết của mình các nhà thơ miền Trung đã góp phần thúc đẩy sự phát triển  nền thơ ca nước nhà qua các thời đại. Tìm hiểu cốt cách người miền Trung trong thơ Thạch Quỳ cũng chính là tìm hiểu bản sắc riêng của tác giả, của  từng vùng miền khác nhau. Thơ dù đổi mới, cách tân đến đâu nhưng nếu đánh mất bản sắc của mình, của quê hương mình, của dân tộc mình thì khó lòng có sức lan tỏa và sức sống lâu bền. (Nhà thơ Thạch Quỳ)

THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM BÙNG NỔ TRONG LẶNG LẼ

Thanh Thảo


Thơ miền Trung có thể dữ dội, nồng nàn như thơ Thu Bồn, có thể tỉnh táo mà day dứt như thơ Ý Nhi, lung linh u buồn như thơ Đinh Thị Như Thúy, hồn nhiên đằm thắm như thơ Mỹ Dạ…Và cũng có thể điềm tĩnh để bùng nổ trong lặng lẽ như thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Tôi đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm từ cách đây mấy chục năm, cũng đã có vài ba lần viết về thơ Nguyễn Khoa Điềm, dẫu không dám nói là đã hiểu hết thơ anh. Tôi cũng đã quen biết rồi quen thân với Nguyễn Khoa Điềm từ hơn hai chục năm nay, nhưng không dám nói là đã hiểu hết anh. Nguyễn Khoa Điềm là người kín đáo. Tôi nhớ có lần cùng đi về Dung Quất với nữ nghệ sĩ điện ảnh Trà Giang và Nguyễn Khoa Điềm, lúc đó là Bộ trưởng văn hóa, khi chỉ riêng hai chị em, chị Trà Giang nói nhỏ với tôi: “ Mình thấy ông Điềm như chả bao giờ cười.” Tôi cũng nói nhỏ với chị Trà Giang: “ Có lẽ ông ấy chưa cười chứ không phải không cười.” Đúng thế thật, vì sau đó chỉ ít phút, chị Trà Giang đã tận mắt chứng kiến anh Nguyễn Khoa Điềm…cười. Hình như sau khi tôi nói một câu gì đó. Mà hầu hết những câu kiểu đó của tôi đều bậy bạ, chả đâu vào đâu.

Mỗi lần có dịp chọn thơ cho một “show” trình diễn, tôi thường thích chọn bài thơ “ Chiều Hương giang” của Nguyễn Khoa Điềm. Tôi yêu bài thơ giản dị này, và yêu nhất là cái con người, cái “nhân vật” nhà thơ trong bài thơ bình thản đánh bạn với…con bò, trong một chiều nghi ngút cô đơn:

Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ

Bên dòng sông như chưa biết chiều tan

Tôi với nó lặng im bè bạn

Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương giang

(Chiều Hương giang)

Khi đọc đoạn thơ ấy, trong tôi hiện ra một nét cười lặng lẽ của tác giả, và tôi biết có những lúc trong đời, ta chỉ muốn thủ thỉ với…con bò hay con chó, và những lúc ấy, ta cảm thấy nhẹ lòng biết bao. Người ta nói thơ như Nguyễn Khoa Điềm là thơ hướng nội. Tôi không nghĩ có những nhà thơ hoàn toàn hướng nội hoặc hoàn toàn hướng ngoại. Nhà thơ nào cũng phải hướng nội mới làm được thơ, nếu không thì chỉ được những câu vần vè tuyên truyền hay quảng cáo. Và nhà thơ nào cũng phải có phần hướng ngoại khi muốn thơ mình có người đọc, có người chia sẻ. Vấn đề để phân biệt ở đây là có những nhà thơ chỉ hài lòng khi kiếm càng đông người hâm mộ càng tốt, và có những nhà thơ chỉ mong được một ít, thậm chí vài ba người chia sẻ, là đủ vui rồi. Có thể Nguyễn Khoa Điềm thuộc dạng “những nhà thơ thứ hai”, những người chỉ thích lặng. Khi ngồi trước bệnh xá cũ của chị Đặng Thùy Trâm trên một ngọn núi ở Đức Phổ giáp Ba Tơ, Nguyễn Khoa Điềm viết:

Chiếc hầm cũ đau như tròng mắt

Nhìn vào ta thăm thẳm, bơ vơ

(Ngày về)

Tôi bảo đảm, trong hoàn cảnh ấy, sẽ có những nhà thơ khác viết khác. Nhưng Nguyễn Khoa Điềm-một người đã quen với những căn hầm cũ ở chiến khu-lại thấy nơi cái rỗng không của một căn hầm “đau như tròng mắt” ấy hiện về cả một quá khứ chiến tranh và đôi mắt của người bạn gái cùng trường Chu Văn An đang “thăm thẳm” nhìn mình, một cái nhìn “bơ vơ”, côi cút. Như đã tới tận cùng của “cõi lặng”, và cũng không nói gì cả. Không hàm ngôn ẩn nghĩa gì cả. Chỉ đau. Và chưa chắc đã muốn chia sẻ nỗi đau ấy với ai.

Thơ không mang lại cho ta nhiều vinh quang lắm đâu, nhưng có thể quàng nỗi đau của người vào cho ta, và mang nỗi đau của ta tới cùng người. “Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng”( Hy vọng), đơn giản vì đá sống lâu hơn ta, kiên nhẫn và lặng lẽ hơn ta. Nhưng cũng cứng rắn hơn ta. Bởi phải biết cứng rắn mới học được sự mềm mỏng, và phải kiên định như đá mới cảm được hết sức mạnh của dòng nước:

Anh trôi đi cùng phù du phiêu sinh vật, những

tiếng chuông không ngày về

Những ngọn cỏ khô không nguồn gốc, những

người mẹ đắm đò, những câu mái nhì mất tích

Anh trôi đi với trận bão năm Thìn, nhịp cầu bị

đánh sập năm Thân

Những cây bèo tím

(Sông Hương)

Khi ta nói, thơ của một tác giả thuộc về dòng thơ miền Trung, thì không chỉ vì tác giả ấy quê ở miền Trung, mà còn vì khí chất của sông núi miền Trung đã hiện lên như không thể khác trong thơ của họ:

Một mùa hè trỗi những đám mây bất thường

Sừng sững như dãy phao cửa biển

(Định vị)

Cái cách hình thành và định dạng những đám mây ở miền Trung cũng khác, và khi nhà thơ “định vị” được không chỉ là “những cơn chóng mặt” như Rimbaud thi sĩ đã chỉ ra, mà còn định hình được những đám mây những cơn giông trên bầu trời, thì thơ họ dẫu không “hô phong hoán vũ” được như thầy phù thủy, cũng khiến người đọc rơi vào trạng thái ngất ngây trong thoáng chốc. Nguyễn Khoa Điềm, khi về quê đón Tết, “Đi vào đi ra/Ngồi bệt xuống thềm/Ngó mây bay trên vườn người khác/”, là đã tự mình rơi vào “trạng thái thơ” không kiểm soát, một trạng thái mà khi đó lý trí đứng xớ rớ chơi bên ngoài, còn vô thức thì “đi vào đi ra” ở bên trong. Và làm nên những tiết điệu rất riêng:

Mãi khi vầng trăng treo trước cửa

Chợt nhớ khuôn mặt hiền xót xa

Nghiêng xuống cánh đồng ngày xưa

 

Vì sao không thể yêu mến hơn ?

Vì sao không xanh tươi hơn ?

Vì sao không trong sạch hơn ?

(Trong những buổi chiều)

Người ta nói những dằn vặt trong thơ cũng là những dằn vặt có tiết điệu, là vậy. Nếu có âm nhạc trong thơ thì âm nhạc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được kìm nén tối đa, có thể gọi là “âm nhạc tối thiểu”. Một số nhà thơ lớn trên thế giới đã đi theo trường phái thơ có “âm nhạc tối thiểu này”, và ở Việt Nam tôi thấy có Văn Cao, một phần Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm.

Có một nỗi buồn

Canh cánh

Sau vai anh

Trước một tầm với

Đâu đó

Trên chiếc lá còn sống

Trong mây, ngày sau mưa

(Có một nỗi buồn)

Khi đã chọn được cho mình lối thơ tiết chế với âm nhạc tối thiểu như vậy, Nguyễn Khoa Điềm có thể khiến từng chữ trong câu thơ có được sự tự tại, như cách mà nhà thơ tự tại:

Đứng đấy tự bao giờ, bên dòng sông cũ

Con bò gặm cỏ

 

Chậm rãi

Một ít bóng đêm và ít hạt bình minh

Từng miếng một, nhai và thở

(Cỏ ngọt)

Thả lỏng hồn nhưng kiểm soát chữ và tiết nhịp của chữ, thơ Nguyễn Khoa Điềm nhiều lúc rất gần với thơ cổ điển, nhưng có lúc lại khiến ta giật mình bởi tính thời sự và đương đại của nó ẩn trong những hạt chữ kìm nén:

Những giọt nước mắt

Thật buồn

Thật lặng lẽ

Trước bức chân dung

Người lính Điện Biên vừa tròn trăm tuổi

Của một người tù.

Trận chiến Lịch Sử

Đã phá tung mọi xiềng xích ?

 

Người họa sĩ trẻ

Từ sau song sắt

Vẫn bình tâm

Dành lòng biết ơn

Không dứt

Cho một người lính già”

(Bức chân dung người lính già)

Bài thơ được kìm nén tới từng dấu chấm(.) từng dấu hỏi(?), và âm nhạc tối thiểu của nó đã giúp bài thơ bùng nổ trong tâm trí người đọc, một sự bùng nổ đi với lòng cảm phục. Đâu cần phải đại ngôn hay lắm lời, thơ mới bùng nổ!

Tôi nghĩ, thơ Nguyễn Khoa Điềm có thể đại diện cho thơ miền Trung ở độ kìm nén tối đa và âm nhạc tối thiểu đó, “như bãi mìn/vùi dưới đất nhiều năm/”( cái này là thơ tôi-TT)

Quảng Ngãi 20/09/2011

 

*****

 

CỐT CÁCH  NGƯỜI MIỀN TRUNG QUA THƠ THẠCH QUỲ - TỪ MỘT GÓC NHÌN

Mai Văn Hoan

Miền Trung là vùng đất “gió Lào cát trắng”, bão lụt triền miên; là nơi phải chịu đựng bao cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc; cũng là vùng đất có nhiều phong cảnh kỳ thú… Tất cả đó đã góp phần tạo cho con người miền Trung những đặc điểm riêng, những cốt cách riêng. Nếu như người miền Bắc lịch lãm, mềm mỏng, tao nhã; người miền Nam phóng khoáng, hào hiệp, cởi mở thì người miền Trung cứng rắn, khảng khái, thật thà. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai từng khái quát:  “Người Nghệ - Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ”. Điều đó không chỉ đúng v

TẦM NHÌN

VĂN — Viết bởi maivanhoan @ 15:25
TẦM NHÌN
 
 

  Trong chương môn Văn cấp 3 những năm 70 của thế kỷ trước có tác phẩm đề cập đến “tầm nhìn” của Nguyễn Khải. Hai nhân vật Biền và Tuy Kiền đều là cán bộ lãnh đạo nhưng có hai tầm nhìn đối lập nhau. Tuy Kiền chỉ thấy cái lợi cá nhân trước mắt còn Biền thì có tầm nhìn xa rộng hơn. Vấn đề mà nhà văn Nguyễn Khải đặt ra thời ấy cho đến nay vẫn còn là vấn đề thời sự. Nhân diễn đàn đang nóng lên với những đề xuất gây chú ý của tân  Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, tôi muốn bàn thêm đôi lời về “tầm nhìn” trong hệ thống giao thông đường bộ nước ta.

        Nếu ví đất nước là một cơ thể sống thì hệ thống đường giao thông là những mạch máu vô cùng quan trọng. Từ lâu, chúng ta đã có các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đào tạo ra hàng trăm, hàng nghìn kỹ sư, cán bộ thiết kế và thi công cầu – đường. Trong số họ không hiếm những kỹ sư, cán bộ giỏi, có tâm huyết và đã tạo dựng được cả một hệ thống đường bộ chằng chịch, liên thông góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nước nhà. Việc mở rộng đường quốc lộ 1A và thi công đường Hồ Chí Minh là thành tích đáng được ghi nhận của ngành GTVT. Nhưng mấy năm trở lại đây tai nạn giao thông đường bộ ngày một gia tăng là điều làm cho tất cả mọi người hết sức quan tâm, lo lắng. Nguyên nhân thì có nhiều: do ý thức của người tham gia giao thông, do nhu cầu lưu thông hàng hóa ngày càng cao giữa các vùng miền, do mật độ và tốc độ phát triển của các phương tiện giao thông… Và trong đó có phần chất lượng đáng báo động của hệ thống giao thông đường bộ. Phải thừa nhận hạ tầng cơ sở giao thông đường bộ hiện nay còn quá  nhiều bất cập. Trên một số tuyến đường xuất hiện những “điểm đen”, liên tục xảy ra những vụ tai nạn kinh hoàng. Theo thống kê chưa thật đầy đủ thì hàng năm cả nước có hơn 11 000 người chết vì tai nạn giao thông. Ở  xã Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình (quê tôi) số liệt sĩ hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có 165 người, cộng với số dân thường chết trong hai cuộc chiến tranh tất cả chưa đến 200 người. Nhưng số người chết vì tai nạn giao thông trong mười năm lại đây (1990 – 2010) đã hơn 400 người. Một con số khiến cho những ai có lương tâm không khỏi giật mình. Quê tôi là vùng dân cư đông đúc lại nằm ngay trên tuyến đường quốc lộ 1A, nên tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên. Dưới chân đèo Lý Hòa có thắng cảnh Đá Nhảy khá đẹp nhưng mấy năm trước đây đó là một “điểm đen” với hàng trăm vụ tai nạn giao thông vô cùng thảm khốc. Nguyên nhân chính là vấn đề “tầm nhìn” hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những kỹ sư, cán bộ thiết kế đã không tính đến chỗ chân núi choãi ra che khuất tầm nhìn. Một kiến thức hết sức sơ đẳng như vậy không hiểu vì lý do gì mà họ không tính đến. Sự thiếu “tầm nhìn” của họ đã đánh đổi hàng trăm sinh mạng. Mãi đến khi dân tình hết lời ca thán người ta mới tìm cách mở thêm một con đường tránh cho xe đi hai chiều. Đó là cái kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Thế là từ đó “điểm đen” bị xóa sổ. Nghẹo Giằng Xay và cung đường dưới chân tượng Phật Bà (ở Ngự Bình), thành phố Huế trước đây cũng là những “điểm đen”như thế. Sau khi được cải tạo lại thì những vụ tai nạn giao thông không còn xảy ra nữa.  “Điểm đen” là “cạm-bẫy-người” do chính con người cạm bẫy chứ đâu phải ma quỷ! Ở đây, có vấn đề “tầm nhìn” trong chất lượng đào tạo cán bộ, kỹ sư chuyên ngành – đặc biệt là chuyên ngành cầu – đường.
        Lĩnh vực GTVT đang đặt ra một số vấn đề khiến toàn xã hội bức xúc. Có thể nói không ngoa rằng trên thế giới, ít thấy tài xế nước nào khổ như ở nước mình: cứ mỗi chặng đường là gặp một trạm thu phí, một nhóm công an chặn đường, lòng đường vừa hẹp vừa xuống cấp nghiêm trọng, trên đường xe khách, xe con, xe tải, xe máy, xe đạp…  tranh nhau vượt ẩu, bất chấp luật lệ . Lưu thông trên những tuyến đường lộn xộn như thế, không xảy ra tai nạn mới là chuyện lạ! Tôi có dịp sang Thái Lan, đi xe tốc hành từ Noọng Khai đến U Đon dài khoảng ba trăm cây số mà chỉ mất chưa đến hai tiếng đồng hồ. Xe chạy với tốc độ 150 km/g, không hề có bóng dáng công an chặn đường, không hề có chuyện bắn tốc độ, không một trạm thu phí nào. Đường hai chiều, mỗi chiều ba làn cho mỗi loại xe, hai bên đường rất ít nhà cửa, quán xá. Đến khi nào đường quốc lộ 1A của ta mới được như nước bạn? Một công trình giao thông huyết mạch quy mô như vậy sẽ mang lại bao nhiêu điều lợi cho dân, cho nước. Bởi vậy, nếu tôi làm Bộ trưởng như ông Đinh La Thăng, tôi sẽ dồn hết tâm sức ưu tiên cải tạo, nâng cấp con đường quốc lộ 1A. Phải tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho công trình trọng điểm này. Nếu làm được điều đó trong nhiệm kỳ của mình, nhân dân sẽ suốt đời ghi nhớ công ơn của vị Bộ trưởng. Bởi công trình này không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn mà còn tránh cho đất nước thảm họa “chiến tranh” tai nạn giao thông, cướp đi mỗi năm hàng nghìn sinh mạng.
        
        Vấn đề chủ yếu là “tầm nhìn” và cái Tâm đối với dân với nước!

                                                                     Huế, 5- 11- 2011
Mai Văn Hoan
 

Giật mình đọc lại Nguyễn Hàm Ninh

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 15:20
Giật mình đọc lại Nguyễn Hàm Ninh
 

Lúc còn là một học sinh trung học tôi từng nghe tên Nguyễn Hàm Ninh qua bài Năm con sông quê hương của nhà thơ Xuân Hoàng: Vùng Thanh Thủy vẫn nguyên hòn lèn Bảng/ Nguyễn Hàm Ninh dẫn bạn đến bình văn. Kể từ đó, tôi tò mò muốn biết Nguyễn Hàm Ninh là người thế nào? Bạn ông gồm những ai? Tài văn thơ của ông ra sao? Lục tìm những tư liệu thời nhà Nguyễn, tôi được biết: ông tự Thuận Chi, hiệu Tĩnh Trai, sinh năm 1808, mất năm 1867, người làng Phù Hóa, sau dời sang làng Trung Thuần, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là làng Trung Thuần, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch).


 Ông đỗ tú tài năm 21 tuổi, đỗ Giải nguyên năm 23 tuổi; từng dạy Quốc tử giám, làm tri huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), được bổ Lang trung bộ Lễ, Án sát tỉnh Khánh Hòa…Những năm cuối đời, ông cáo quan về quê hưởng thú thanh nhàn. Do tính khí cương trực nên quãng đời làm quan của ông không mấy suôn sẻ, thăng giáng nhiều lần. Ông là bạn thân của Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm… Tác phẩm của ông gồm: Tĩnh trai thi sao (chữ Hán) và bài Phản Thúc ước (chữ Nôm).

Trước đây, tôi chưa có điều kiện nghiền ngẫm văn thơ của ông. Giờ ngồi thư thả đọc lại ông, tôi cứ giật mình, từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Có nhiều giai thoại về Nguyễn Hàm Ninh, trong đó nổi tiếng nhất là giai thoại liên quan đến vua Tự Đức. Một hôm, vua Tự Đức mở tiệc chiêu đãi. Lúc nhà vua đang ăn thì bỗng kêu lên: “Trẫm cắn phải lưỡi đau quá! Các khanh hãy làm thơ vịnh về sự cố này nhưng cấm không được nhắc đến hai từ lưỡi và răng. Ai làm hay trẫm sẽ ban thưởng”. Nghe nhà vua nói vậy, các quan văn võ có mặt trong bữa tiệc đều cố vắt óc suy nghĩ... Một lát sau, Nguyễn Hàm Ninh đứng dậy, xin phép  đọc bài thơ ông vừa làm xong:

Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh;
Nhĩ sinh vi hậu, ngã vi huynh.
Đồng thời cộng hưởng trân cam vị;
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.

Dịch thơ:

Ta ra đời trước, chú chưa sinh;
Chú phận làm em, ta làm anh.
Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng chung hưởng;
Cốt nhục mà sao nỡ dứt tình.

Nguyễn Hàm Ninh vừa đọc xong bài thơ,  vua Tự Đức mặt đỏ bừng bừng, phán rằng: “Thơ rất hay, trẫm thưởng cho nhà ngươi mỗi câu một lạng vàng. Nhưng ý thơ thâm hậu nên nhà ngươi phải chịu phạt, mỗi câu một roi!”. Mẩu giai thoại này phần nào đã thể hiện tài năng, khí phách của Nguyễn Hàm Ninh. Cái khó là không được dùng từ lưỡi và răng thế mà ông vẫn tìm được cách nói rất phù hợp với sự cố răng cắn lưỡi, lại còn ngầm ám chỉ cả việc vua Tự Đức ra lệnh giết chết thái tử Hồng Bảo là anh cùng cha khác mẹ. Điều làm tôi giật mình là ông dám chạm đến chỗ “húy” của nhà vua trước mặt bá quan văn võ. Phải là người có dũng khí, dám coi thường tính mạng của mình mới làm một việc động trời như vậy!

alt

Mộ của Nguyễn Hàm Ninh ở Quảng Lưu, Quảng Trạch

Đối với vua Nguyễn Hàm Ninh còn không sợ huống nữa là bọn quan lại ở địa phương. Thời cáo quan về quê, ông dựng một ngôi nhà cỏ dưới chân núi, gọi là Cừ khê thảo đường (Ngôi nhà cỏ ở khe Cừ): Khai song thanh hiểu khan vân khí/ Xuất quách tà dương tiện điểu hoàn (Sáng sớm mở cửa đã thấy mây khói/ Bóng chiều vừa tắt ngoài thành chim liền bay về). Nói là giấu mình nơi núi non khe suối để tìm lấy sự an nhàn (Ẩn cốc thê khâu tự tại nhàn) nhưng tâm ông đâu có nhàn. Cái bọn quan lại ở địa phương ông thời ấy vừa dốt nát, vừa hống hách làm ông hết sức căm ghét. Ông viết bài  Phản Thúc ước, thẳng thắn vạch trần bộ mặt thật của bọn chúng. Có kẻ nhờ gian lận mà đỗ đạt, khi làm quan thì lên mặt với dân: Giấy cũ nhàm tay biếng dở, đến khoa kỳ đem quyển lượt xem chơi/ Giường cao vếch mảy ngồi ngay, chờ hương ẩm, chặt thủ heo vác tới. Bọn chúng lợi dụng việc phân chia điền thổ, chiếm dụng đất công, dân tình hết lời ca thán mà quan trên vẫn tảng lờ vì đã nhận hối lộ: Thước ruộng tấc vườn là của nước, bỏ đi đặt lại, chẳng phân chi sao xếp sổ làm thinh/ Đồng tiền lượng bạc há riêng ai, trang nọ tờ kia, mưu tự tệ lại tìm đường mà chấy (chiếm đoạt). Có những câu trong Phản Thúc ước, đến bây giờ đọc lại tôi không khỏi giật mình: Mỡ dân rán đã đầy xanh/ Da đất quét vừa chật đạy. Bọn chúng cậy quyền, cậy thế kết bè, kết đảng tìm đủ mọi cách đục khoét của dân. Bút pháp của Nguyễn Hàm Ninh hết sức linh hoạt. Với vua Tự Đức vốn sính chữ nghĩa, ông dùng cách nói bóng gió. Nhưng với Phản Thúc ước “vì muốn con trẻ đàn bà nghe được rõ” nên ông đã chọn cách viết “nôm na pha mấy giọng nhà quê”. Bởi thế mà Phản Thúc ước  của giải nguyên Nguyễn Hàm Ninh lan truyền bằng miệng khá rộng rãi trong dân chúng thời đó.

Mặc dù ẩn mình trong khe núi, nhưng vốn tính phóng khoáng, lãng mạn nên thỉnh thoảng ông lại vào kinh đô Huế thăm cảnh cũ người xưa. Những chuyến viếng thăm ấy đã gợi hứng cho ông viết một số bài thơ tình mà đến Cao Bá Quát - vốn nổi tiếng khó tính về thơ, cũng phải khen rằng: “cao bộ Trung Đường, phủ thị chư tử” (thơ hay như của thời Trung Đường, vượt hẳn các nhà khác); tài thơ như Tùng Thiện Vương cũng phải nể phục (theo Lương An, tạp chí Sông Hương, số 10 -  năm 2010). Một trong những bài thơ tình của ông khiến tôi phải giật mình là bài Ức mai:

Lâm đường tạc dạ sóc phong xuy
Tiểu các thanh hàn độc tọa trì
Địch lý quan sơn sầu cựu khúc
Thủy biên ly lạc nhận tiền kỳ
Hương nam tuyết bắc vô phương tấn
Nguyệt địa vân giai hữu mộng ti
Dục bả tân từ viễn tương tặng
Mỹ nhân uyển tại thủy chi my

Tôi phỏng dịch:

Đêm qua, gió bấc thì thào
Một mình gác nhỏ lạnh vào thấu xương
Vẳng nghe tiếng sáo mà thương
Bờ sông, thuở ấy vẫn thường bên nhau
Hương nam, tuyết bắc còn đâu
Trăng sân, mây biếc… mộng sầu biệt ly
Xa xôi muốn gởi thơ đi
Bên hồ người ngọc tức thì hiện ra!

Nhà thơ Lương An cho biết:  bài thơ này được Nguyễn Hàm Ninh sáng tác khi công chúa Mai Am - người mà ông thầm yêu trộm nhớ đã lấy Thân Trọng Dị (một vị quan to trong triều). Trở lại Phủ Tùng Thiện Vương, không còn bóng dáng người đẹp, ông cảm thấy vô cùng trống trải. Xuyên suốt bài thơ là nỗi thương nhớ công chúa Mai Am. Ngay cái tiêu đề Ức mai cũng nói lên điều đó. Bài thơ này đã được công chúa Mai Am trân trọng đưa vào  Diệu Liên thi tập của mình. Dám làm thơ “ghẹo” cả công chúa, hơn nữa chồng công chúa lại là một vị quan to trong triều, thiết nghĩ từ xưa đến nay ít ai bạo gan như Nguyễn Hàm Ninh.

Có lần, vào tiết thanh minh, nhà thơ Miên Thẩm ra Quảng Bình tìm thăm Nguyễn Hàm Ninh. Hai ông cùng đàm đạo văn chương thế sự. Trong câu chuyện, Miên Thẩm báo tin cho ông biết: “Tàu Tây dương đang ngấp nghé ngoài biển đông, rắp tâm xâm lược nước ta, triều đình đã cử tướng tài chuẩn bị đối phó”. Nguyễn Hàm Ninh bèn rủ bạn cùng trèo lên một ngọn núi khá cao ở Lệ Sơn (thuộc xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình) để nhìn ra biển đông. Đứng trên đỉnh núi, ông phóng bút làm ngay bài thơ rồi dõng dạc đọc cho bạn nghe:

Cổ thú yên thâm túc vũ dư,
Nham hoa vô tế nhiễu khâm cư.
Thiên phong vãn chiếu liên bình lục,
Vạn lý phù vân quyển thái hư.
Nam quốc sơn hà chung bất động,
Tây nhung kỹ lãng dục hà như?
Tự văn cửu bệ cần thôi cốc],
Nhật vọng Cam Tuyền tấu tiệp thư.
 (Lệ Sơn xuân vọng)
            
Cụ Nguyễn Tú phỏng dịch:
Mưa xong, đồn cũ khói sương sa
Hoa núi bao quanh thân áo ta
Ráng chiếu ngàn non xuyên cỏ nội
Mây bay muôn dặm suốt trời tà.
Núi sông nước Việt không lay chuyển
Giặc cỏ phương Tây muốn cướp a?
Nghe nói Chín Tầng đà cử tướng
Hằng mong thắng trận báo tin ra.

Trong những tháng ngày tình hình biển đông đang nóng lên vì sự khiêu khích trắng trợn của thế lực bánh trướng nước ngoài, đọc những dòng thơ này của Nguyễn Hàm Ninh, chúng ta như được tiếp thêm sức mạnh. Sự khẳng định: “Nam quốc sơn hà chung bất động” (Sông núi nước Nam không lay chuyển) như một lời thề bất tử, một niềm tin sắt đá của toàn dân tộc mỗi khi có giặc ngoại xâm.
                                                        
Huế, tháng 8 – 2011

Mai Văn Hoan (26 Lê Lợi, Huế) 
       

 


CỐT CÁCH NGƯỜI MIỀN TRUNG QUA THƠ THẠCH QUỲ

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 20:46

CỐT CÁCH NGƯỜI MIỀN TRUNG QUA THƠ THẠCH QUỲ

                                                                         Mai Văn Hoan. 

(Tham luận đọc tại Hội thảo Thơ hiện đại Việt Nam - nhìn từ miền Trung ... )

 
Miền Trung là vùng đất “gió Lào cát trắng”, bão lụt triền miên; là nơi phải chịu đựng bao cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc; cũng là vùng đất có nhiều phong cảnh kỳ thú… Tất cả đó đã góp phần tạo cho con người miền Trung những đặc điểm riêng, những cốt cách riêng. Nếu như người miền Bắc lịch lãm, mềm mỏng, tao nhã; người miền Nam phóng khoáng, hào hiệp, cởi mở thì người miền Trung cứng rắn, khẳng khái, thật thà. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai từng khái quát: “Người Nghệ - Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ”. Điều đó không chỉ đúng với người dân Nghệ - Tĩnh mà rất đúng với người dân miền Trung nói chung. Nét riêng này đã ảnh hưởng ít nhiều đến sáng tác của các tác giả gắn bó khăng khít với mảnh đất miền Trung, trong đó có Thạch Quỳ.   
Nhà thơ Thạch Quỳ tên thật là Vương Đình Huấn, sinh năm 1941, tại làng  Đông Bích, dưới chân núi Quỳ Sơn (dân địa phương gọi là rú Cuồi) thuộc xã Trung Sơn, Đô Lương, Nghệ An, trong một gia đình trí thức Nho học. Ông nội nhà thơ  thuộc dòng dõi khoa bảng, ông ngoại  từng thi đỗ ba khoá tú tài,  bà ngoại và mẹ là cả một kho tàng văn học dân gian. Cho đến nay, Thạch Quỳ đã cho ra mắt 8 tập thơ: Sao và đất (in chung, 1967); Tảng đá nhành cây (1973); Nguồn gốc cơn mưa (thơ thiếu nhi 1978); Con chim Tà Vặt  (1985)); Cuối cùng vẫn một mình em (1996); Đêm giáng sinh ((2004). Tuyển thơ Thạch Quỳ (2009); Bức tượng (2010).  Anh là một trong những tên tuổi sáng giá của thế hệ những cây bút trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và vững bước trên con đường thi ca đầy chông gai cho đến bây giờ.

Thời niên thiếu, anh vừa đi học vừa phải chăn trâu, cắt cỏ dưới chân núi Quỳ. Cái bút danh Thạch Quỳ sinh ra từ đó (Thạch Quỳ là tảng đá ở núi Quỳ). Những vần thơ đầu tiên anh ngồi viết trên tảng đá ấy là những vần thơ bắt chước những bài hát đồng dao của lũ trẻ chăn trâu quê anh: Nhổ lác nhổ từng cây/ Nhổ năn măn từng rễ/ Lưng cúi gập suốt ngày/ Bắp chân đầm máu đĩa… (Bài hát của những người nhổ cỏ năn, cỏ lác ở vùng đồng chiêm trũng). Nếu không phải là người trong cuộc chắc không thể viết được những câu thơ giàu chất hiện thực như thế. Anh kể: thời đó, anh cùng với nhà thơ Vương Trọng từng đội những giành phân đầy, bụng đói cồn cào, cố hết sức leo dốc, vượt qua đỉnh núi Quỳ. Có lẽ phải trải qua những tháng năm khó khăn ấy mà sau này, khi viết về cái nghèo, cái đói hiếm nhà thơ nào ở xứ ta diễn tả sinh động như anh, hóm hỉnh như anh, thấm thía và sâu sắc như anh: Cái nghèo đội nón cời và nhón chân từng bước/ Cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi. Anh nhân cách hóa cái nghèo thành một kẻ vô cùng ranh mãnh: Mày núp trong vừng trán mẹ răn reo/  Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ / Mày luồn lọt qua trăm ngàn mối chỉ/ Để nằm trong mảnh vá áo con ta/ Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến/ Bò nôn nao trong ruột đói của ta… Anh nhận ra đằng sau cái nghèo là những thế lực vô cùng độc ác: Cái nghèo có nọc/ Đốt cha ông từ thuở chẳng chăn màn (Cái nghèo). Chính bọn chúng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái nghèo, cái đói của dân. Nhưng người dân quê anh nói riêng và người miền Trung nói chung không cam chịu cảnh nghèo. Họ cố tìm đủ mọi cách để thoát khỏi đói nghèo. Cái mà nhà nghiên cứu Đặng Thái Mai đúc kết “tằn tiện đến cá gỗ” là muốn nói đến nghị lực dùi mài kinh sử của những ông đồ xứ Nghệ. Thạch Quỳ cũng đã thể hiện cái ý chí, cái nghị lực phi thường ấy theo cách riêng của mình: Lòng viên sỏi vẫn giữ màu máu đỏ/ Núi nghiêng vai vác con đường lên (Tặng những cô gái đập đá bên đường không tên); Giọt mưa gom hạt bụi hóa phù sa (Gom nhặt trên bãi bom B.52); Nửa phần đời chong mắt đèn xó tối/  Nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên (Nửa phần đời)… Những nhà thơ thành danh quê anh phần lớn định cư ở thủ đô, riêng anh vẫn bám trụ trên mảnh đất Nghệ An một cách kiên cường, gan góc. Bàn bè chí cốt của anh nhiều lần khuyên và tạo điều kiện để gia đình anh “dời đô”, song anh vẫn một mực chối từ. Về con  người Thạch Quỳ, nhà thơ Võ Văn Trực nhận xét: Vì yêu quê đến câu nệ, đến "cố chấp”, anh cố giữ được bản tính của quê hương đôi lúc gàn dở và cực đoan - người ta thường gọi là "cái gàn của anh đồ Nghệ”.  “Bản tính của quê hương” mà nhà thơ Võ Văn Trực nói đến ở đây cũng chính là cốt cách của người miền Trung. Những giai thoại về cái gàn của “ông đồ nghệ Thạch Quỳ” đã phần nào thể hiện bản tính thẳng thắn, khẳng khái của những con người ở vùng đất từng được mệnh danh là “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Một bạn đồng nghiệp của tôi kể rằng: Thời mới chia tỉnh (1991), các nhà văn Xuân Hoài, Đức Ban… trở về Hà Tĩnh. Lãnh đạo Hội Văn nghệ Nghệ An chỉ còn lại Dương Huy và Thạch Quỳ. Nhà thơ Thạch Quỳ được phân công giữ chức  Thường vụ trực. Ông Hồ Phi Phục (lúc đó làm Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy) vốn ngưỡng mộ tài năng thơ ca và bản tính thẳng thắn, cương trực của anh nên gới ý cho Mặt trận Tổ quốc VN tỉnh giới thiệu anh vào danh sách đề cử đại biểu Quốc hội (danh sách 3 người ngoài đảng được MTTQVN Nghệ An giới thiệu hồi đó gồm: Thạch Quỳ, Tạ Quang Hải và Lê Duy Nguyên). Nhà thơ Thạch Quỳ từ chối mãi không được. Hôm lấy ý kiến cử tri tại dãy nhà C/9, khu tập thể Quang Trung, anh kiếm cớ không đến tham dự bởi nghĩ rằng sự có mặt của mình sẽ khiến bà con e ngại. Quả đúng như vậy! Nhờ sự vắng mặt của anh mà bà con phát biểu về anh hết sức thoải mái. Bà con thừa nhận anh là người có tài, cương trực, thẳng thắn nhưng chưa thật hòa đồng; thường xuyên không tham gia làm vệ sinh cầu thang ngày chủ nhật hàng tuần; ít đi thăm hỏi bà con khu phố trong những dịp lễ tết… Khi nghe ông Chủ tịch Mặt trận TQVN tỉnh thông báo lại ý kiến cử tri, anh thở phào nhẹ nhõm và xác nhận bà con góp ý hoàn toàn đúng. Anh bị gạch tên khỏi danh sách đề cử bởi những lý do có thể nói là hết sức vớ vẩn. Cũng vì những lý do hết sức vớ vẩn ấy mà Quốc hội bỏ sót một đại biểu tài năng, một tiếng nói thẳng thắn, trung thực. Cái bản tính thẳng thắn, khẳng khái, cương trực của anh không chỉ được thừa hưởng từ gen di truyền mà còn được thừa hưởng từ các bậc tiền bối vùng quê Nghệ - Tĩnh như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu…
Đọc lại toàn bộ thơ Thạch Quỳ, điều dễ nhận nhất là cái khí chất mạnh mẽ và đầy bản lĩnh của một cây bút từng trải:  Trơ trơ tảng đá/ Đá đổ mồ hôi/ Biết hay không biết/ Lầm lì mồ côi (Tảng đá); Cả cái chết đợi chờ tôi trước mặt/ Hù dọa tôi, tôi chấp nhận lâu rồi. Đó cũng là khí chất, bản lĩnh của một số nhà thơ miền Trung như Phùng Quán (Dù ai cầm dao dọa giết/ Cũng không nói  ghét thành yêu); Hải Kỳ (Tôi là tôi như thế tự ngày xưa); Hồng Nhu (…nguyện làm cây sét đánh/ Chết trong tươi xanh và ương ngạnh đâm chồi)…  Thạch Quỳ là một con người đầy kiêu hãnh – một sự kiêu hãnh hết sức chính đáng. Bởi anh nói rất trung thực bản tính và tài năng của mình: Tôi đầy ứ, thẳng căng, tôi mạnh khỏe/ Tôi cao hơn đất đá mọi công trình/ Tôi không phải sơ đồ bản vẽ/ Tôi cao hơn người máy, thần linh” (Tôi); Toàn bộ loài cây – một cau mọc thẳng/ Toàn bộ loại chim – một cò thân trắng (Đêm vườn rừng).  Đọc những câu thơ này, tôi chợt nhớ đến Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ: Trong triều ai ngất ngưởng bằng ông! Đó là cái ngất ngưởng, cái kiêu hãnh của những người chân tài. Thật ra thì Thạch Quỳ rất tự biết mình: Không bé nhỏ tầm thường, không vĩ đại/ Có thể vứt đi trong xó tối u buồn / Có thể đứng trên đôi chân vững chãi/ Tôi một mình, tôi lớp lớp triều dâng…(Tôi).  Mặc dù trải qua bao gian nan, thử thách song anh vẫn không nguôi khát vọng: Từng đối mặt với bạo tàn, chết chóc / Máu trào tuôn, sẹo đóng tự trong hồn / Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết / Nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn. Anh khảng khái tuyên bố: Những đau khổ không làm tôi gục xuống (Tôi). Có người nói đùa: ruột Thạch Quỳ còn thẳng hơn ruột ngựa, tính cách Thạch Quỳ còn rắn hơn cả những tảng đá ở núi Quỳ! 
Thạch Quỳ không chỉ có thế. Anh là nhà thơ của những suy tư, trăn trở: Bàng hoàng giữa một ngày/ Mình sống hay chẳng sống?”(Không đề); Nghìn năm mưa đã từng mưa/ Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào? (Lời nghìn năm); Tôi chờ ai nữa? Mùa thu rộng/ Gió thả bên trời lá liễu bay (Mây trắng mùa thu)… Anh là nhà thơ của những triết lý, chiêm nghiệm: Lưỡi gươm ròng ròng máu tươi/ Nước mắt ướt đầm yên ngựa/  Chỉ có đất với trời và cỏ/  Hiểu đường đi của giọt máu người” (Qua đền Cuông ghi chuyện cũ); Cụ đi tìm chân kinh/ Ở thứ kinh không chữ (Bên mộ Nguyễn Du); Với Lan Châu ngấn sóng ánh trên tường/  Luôn luôn động theo nhịp trời, nhịp biển (Trở lại Lan Châu); Cái nghèo xơ trên bộ cánh làm sang/  Cái nghèo xác lại nằm trơ đáy đĩa (Cái nghèo)… Anh còn là nhà thơ của tình yêu lứa đôi: Trời đã tết. Khói xanh mờ bụi nước/ Góc vườn con, hoa mận đã đơm khuy/ Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc/ Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về (Đợi em ngày giáp tết); Anh yêu em hơn thần thánh yêu nhau/ Một khẽ chạm tay, rung toàn cơ thể (Không đề); Đó là chiều nắng nhạt lá thông rơi/ Đó là sớm kim chi màu cỏ biếc. Tôi trở lại sau mười năm cách biệt/ Bên em trước cỏ lặng yên ngồi (Huế)… Nhưng theo tôi: cái cứng rắn, cái thẳng thắn, cái khẳng khái trong thơ Thạch Quỳ thể hiện cốt cách của người miền Trung rõ nét hơn cả. Điều đó đã góp phần quan trọng giúp cho thơ anh có sức lan tỏa và sức sống lâu bền.
Mảnh đất miền Trung là mảnh đất giàu truyền thống thơ ca. Nhiều nhà thơ tài danh đã sinh ra trên mảnh đất này. Thời trung đại có Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tùng Thiện Vương, Nguyễn Hàm Ninh… Thời Thơ Mới có Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư… Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Hữu Loan, Phùng Quán, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… Bằng tài năng và tâm huyết của mình các nhà thơ miền Trung đã góp phần thúc đẩy sự phát triển  nền thơ ca nước nhà qua các thời đại. Tìm hiểu cốt cách người miền Trung trong thơ Thạch Quỳ cũng chính là tìm hiểu bản sắc riêng của tác giả, của  từng vùng miền khác nhau. Thơ dù đổi mới, cách tân đến đâu nhưng nếu đánh mất bản sắc của mình, của quê hương mình, của dân tộc mình thì khó lòng có sức lan tỏa và sức sống lâu bền.
M.V.H.
                                                           Trại viết Tam Đảo, tháng 9 – 2011

Gặp gỡ giao lưu thơ tại trường Đại học Hồng Đức (Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung)

BÀI CỦA BẠN — Viết bởi maivanhoan @ 22:36

Gặp gỡ giao lưu thơ tại trường Đại học Hồng Đức (Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung)

Chủ nhật - 09/10/2011 15:49

Tối ngày 8-10-2011 trong khuôn khổ Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung, các nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học về dự hội thảo đã có cuộc gặp gỡ và giao lưu với công chúng yêu thơ tại trường Đại học Hồng Đức (Tỉnh Thanh Hóa). Xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh trong buổi giao lưu, sinh hoạt thơ cảm động này.

alt

 

 

alt

 

Trước buổi gặp gỡ giao lưu là một số tiết mục văn nghệ chào mừng của thầy trò trường Đại học Hồng Đức.

 

7h30' PM buổi gặp gỡ giao lưu chính thức bắt đầu

 

Nhà văn Kiều Vượng – Chi hội trưởng Chi hội nhà văn Thanh Hóa tuyên bố khai mạc đêm giao lưu thơ.

 

GS. TS Lê Văn Trưởng - phó hiệu trưởng trường Đại học Hồng Đức phát biểu chào mừng buổi giao lưu thơ.

 

Nhà thơ Văn Công HùngTS Hỏa Diệu Thúy cặp MC của đêm giao lưu.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói về sự lao động sáng tạo trong việc sáng tác thơ, về vùng quê làng Chùa – một “làng thơ” có truyền thống. Sau đó đọc bài thơ: “Bài hát về cố hương”.

 

Nhà thơ Vũ Quần Phương chia sẻ những quan điểm của nhà thơ về vấn đề thơ hiện đại và hiện đại thơ.

 

PGS. TS Phan Trọng Thưởng – viện trưởng Viện văn học Việt Nam trao đổi về tiến trình cách tân thơ Việt Nam và những cuộc tranh luận về đổi mới thơ đang diễn ra tại Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung.

 

Nhà văn Đình Kính, cựu chiến binh, sỹ quan hải quân – tác giả kịch bản của bộ phim “Chủ tịch tỉnh” và bộ phim “Huyền thoại tàu không số” tâm sự về nghề viết văn và nghề viết kịch bản phim truyền hình.

 

Nhà văn Thái Bá Lợi nói về cuốn tiểu thuyết mới của ông – Minh sư.

 

 

Tiếp theo chương trình văn nghệ

 

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú đọc bài thơ “Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển”.

 

alt

Nữ sỹ Khánh Mai đọc bài thơ “Hà Nội mùa đông đầu thế kỷ”.

 

Nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo đọc bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi” và kể về những trường hợp ông đã thành công khi phổ nhạc các bài thơ của đồng đội: Làng quan họ quê tôi (thơ Nguyễn Phan Hách), Khúc hát sông quê (Thơ Lê Huy Mậu).

 

alt

Một nhà thơ của vùng đất Thanh Hóa - Nhà thơ Văn Đắc đọc thơ.

 

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đọc thơ trong đêm giao lưu.

 

alt

Nhà thơ Hồng Vinh – Chủ tịch Hội đồng Lý luận văn học nghệ thuật TW đọc thơ.

 

Nhà thơ Trần Quang Quý đọc thơ.

 

Cây lục bát của xứ Thanh – Nhà thơ Huy Trụ đọc thơ.

 

alt

Nhà thơ Thạch Quỳ đọc thơ.

 

Nhà thơ Vương Trọng đọc thơ.

 

Nhà thơ Trần Chấn Uy đọc thơ.

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan với bài thơ “Nữ sinh Đồng Khánh”.

 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến kết thúc với bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển

 

Đêm giao lưu kết thúc vào lúc 9h30' PM.

Nguồn: Vanvn.net


Hội thảo: Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 21:52

Hội thảo: Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung

Hội thảo đã long trọng khai mạc sáng nay, 8 – 10 – 2011 tại Sầm Sơn (Thanh Hóa) dưới sự chủ trì của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch, nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó chủ tịch, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; các nhà văn là Ủy viên BCH: Phan Trọng Thưởng, Đình Kính, Võ Thị Xuân Hà, Khuất Quang Thụy, Đào Thắng, Nguyễn Hoa, Văn Công Hùng… cùng đông đảo các nhà phê bình, nhà văn, nhà thơ miền Trung và Hà Nội về tham dự.

Ông Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng lý luận VHNT TW; bà Lê Thị Bích Hồng, Phó vụ trưởng Vụ VHVN thuộc Ban Tuyên giáo TW đã tham dự hội thảo.

Các ông Vương Văn Việt, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Trọng Hưng, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa đã thay mặt lãnh đạo địa phương đến chào mừng Hội thảo. Ông Vương Văn Việt đọc diễn văn chào mừng đánh giá cao ý nghĩa của hội thảo đối với việc phát triển văn học và thơ nói riêng, đóng góp của nó với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Hội đồng Thơ của Hội NVVN đọc Lời đề dẫn Hội thảo, ông gọi đây là một hội thảo mở. Ông nói:  “…thời Thơ Mới với các tên tuổi lớn như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Bích Khê rồi Nam Trân, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Thái Can và gần hơn nữa là Tố Hữu, Trần Mai Ninh, Nguyễn Xuân Sanh, Minh Huệ, Xuân Hoàng, Trần Hữu Thung rồi Phạm Hầu, Bùi Giáng, Hữu Loan… Rất đa dạng và nhiều phong cách, rất khác nhau về hướng đi trong đời và trong thơ. Rồi đến thời chúng ta như Hoàng Phủ Ngọc Tưởng, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Đông Trình, Trần Vàng Sao, Võ Quê, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Thạch Quỳ, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Văn Ngăn, Ngô Kha, Hải Bằng, Thái Ngọc San, Hoàng Vũ Thuật, Ngô Minh, Thanh Quế, Ngân Vịnh, Hoàng Trần Cương, Anh Chi, Irasara và các nhà thơ nữ Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Ý Nhi, Tuyết Nga, Tôn Nữ Thu Thủy, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Phước… đủ hiện hình thành bức tranh hài hòa trên tổng thể, nhưng lại có bố cục hết sức phóng túng, khi rực rỡ, khi trầm lắng, chỗ chói chang, chỗ thật đằm thắm, mềm mại và uyển chuyển, thực sự lay động… Có thể nói, từ nhiều đời, thơ miền Trung đã trở thành một bộ phận hữu cơ luôn luôn phát sáng, không thể thiếu vắng trong các giá trị nổi bật, tạo nên vẻ đẹp của của nền văn hóa Việt.”

 

Nhà thơ Văn Đắc đọc tham luận Nét nổi bật của thơ Thanh Hóa, nhận xét rất hào hứng về hai hiện tượng thơ xứ Thanh: Hữu Loan thời chống Pháp và Nguyễn Duy thời chống Mỹ. Và kết luận: Từ những nét nổi trội như vậy, nhìn rộng ra toàn cảnh thơ Thanh Hóa, ta có thể khái quát: Thơ Thanh Hóa mạnh mẽ mà mềm mại, tự nhiên mà tinh tế, tự sự mà trữ tình, cá tính mà hòa hợp. Nó là phần máu thịt của thơ miền Trung, một mảng mầu trong bức tranh thơ Việt.

 

Nhà thơ Văn Công Hùng: Đọc tham luận Nhà văn miền Trung Tây nguyên, từ góc nhìn trẻ.

 

Nhà thơ Vũ Quần Phương: Thời chống Mỹ, thơ nào cũng là thơ chính luận của chiến tranh, thơ trong các đô thị Sài Gòn rõ hơn là hiện thực chiến tranh: “Đéo mẹ đêm nay lại ngủ rừng.” Thơ miền Bắc không thế, một em bé mất chó cũng viết: “Nghe bom thằng Mỹ nổ.”

 

Nhà thơ Thạch Quỳ: “Thơ miền Trung trong tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc”, có ý khẳng định không thể đơn giản hóa thơ chống Mỹ, nó đa dạng hơn, phức tạp hơn. Nguyễn Trọng Oánh viết: “Hòa vào dòng lá ngụy trang/ Tôi đi mất hút trong hàng quân đi” đó là hiện thực sâu sắc. Hiện nay các nhà thơ miền Trung đều rất có ý thức hướng về cái mới, sáng tạo mới trong thơ.

 

TS Hỏa Diệu Thúy với tham luận Xứ Thanh – miền đất thi ca, đặt vấn đề địa văn hóa của thơ. “Phan Huy Chú viết: Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía Đông, núi sông rất đẹp, là một chỗ có cảnh đẹp ở nơi xung yếu. Vẻ non sông tươi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho.” Nó làm nên nét rắn rỏi bộc trực của thơ ở đây. Nó cũng nhiều bài viết về bà, về mẹ; hình như miền Trung cả dáng hình đến phẩm chất đều có trong bà và mẹ. Và kết luận: bản sắc xứ Thanh đã tạo nên một nguồn mạch thơ giầu sắc điệu và ngược lại, thơ cũng đã góp phần lưu giữ và tỏa sáng bản sắc xứ Thanh.

 

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật: Vận mệnh thơ như vận mệnh con người. Dẫn lời Trần Nhân Tông theo Bằng Việt “chấp theo lối cũ là không đúng” để khẳng định: “Thơ Việt sẽ già đi nếu không có những Trần Tuấn, Vi Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thúy, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ly Hoàng Ly, Lưu Melan… Họ ra đời trong bầm dập nhưng đã mang linh hồn Việt thời nay, họ mở rộng đường biên thi ca. Rồi nhấn mạnh: Thơ phải thay đổi, chấp theo lối cũ là không đúng.

 

Nhà thơ Vương Trọng: đọc tham luận Đổi mới thơ và những điều ngộ nhận (Xin đọc toàn văn tại giao diện này).

 

Nhà thơ Trần Vạn Giã có bài tham luận khá độc đáo về thơ trong các đô thị miền Nam cũ, đặt nó trong tương quan lịch đại với cả nước. Ông có cái nhìn thân thiện với các tìm tòi, ý thức cách tân của nhóm Sáng tạo của Mai Thảo; ông cũng ghi nhận của dòng thơ yêu nước xuống đường, phản chiến và cổ vũ tình yêu thương đồng bào dân tộc.

 

Nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan có tham luận Nữ tính trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đặt nó trên bình diện thơ chống Mỹ, cuộc chiến ác liệt đã làm xáo trộn cuộc sống, tác động vào con người mà tất cả dường như đều tấp lên vai người thiếu nữ, người vợ, người mẹ rồi người bà. Tham luận nêu bật lên sức chịu đựng của người đàn bà trong chiến tranh cũng như trong thời bình với một nhịp điệu dịu dàng tràn ngập yêu thương. Và nhận xét Có thể coi thơ Lâm Thị Mỹ Dạ như một gương mặt đại diện cho thơ nữ miền Trung, cho nét nhân hậu dịu ngọt của ngôn ngữ miền Trung.

 

Nhà thơ Mai Văn Hoan có tham luận Cốt cách người miền Trung qua thơ Thạch Quỳ - từ một góc nhìn. Dẫn lời Đặng Thai Mai: “Người Nghệ Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ”, MVH hình dung Thạch Quỳ chẳng những là cốt cách Nghệ Tĩnh mà còn là cả miền Trung. Trung thực, thẳng thắn đến thành “ông đồ Nghệ Thạch Quỳ”, có người nói TQ rắn hơn đá núi Quỳ mà ông dùng làm bút danh của mình. Viết về cái đói khó ai ở xứ ta viết hóm hỉnh, sinh động và thấm thía như Thạch Quỳ: “Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến/ Bò nôn nao trong ruột đói của ta.”

 

Nhà thơ Hữu Kim: Miền Trung – Tây Nguyên, thơ tụ ở núi thiêng và trào nơi đầu sóng.

 


Nhà văn Văn Chinh nói những điểm chủ yếu của tham luận Nguyễn Khoa Điềm, từ trầm hùng đến Cõi lặng (toàn văn có trong giao diện này.)

 

Nhà văn Nguyễn Gia Nùng: Chữ nghĩa văn chương cần lì mịn, người đọc không thấy chữ nghĩa, chỉ thấy văn thơ. Tôi tin khoảng trời miền Trung sẽ lại xuất hiện những tài năng cột trụ cho thơ Việt như thế kỷ vừa qua.

 

Nhà thơ  Tùng Bách: Gọi “miền Trung - miền của thi ca.” Tố chất người miền Trung thông minh, cá tính bộc trực, mạnh mẽ khôn ngoan nhưng không khéo léo bằng người Bắc, không hảo hớn bằng người Nam’ chỉ khi cần thế cái tôi thì người miền Trung không kém phần quyết liệt. Thơ miền Trung cũng vậy, ít uốn éo, quanh co, ý tứ chặt chẽ, chữ nghĩa dễ hiểu dễ gần. Nếu không có thơ miền Trung thì thơ Việt nghèo đi rất nhiều.

 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến với tham luận

 

TS Lê Thị Bích Hồng: Tham luận của chị có tên “Cái tôi sử thi trong thơ Kháng chiến chống Mỹ và sự vượt qua những “ngập ngừng xao xuyến”. Tôi yêu thơ chống Mỹ từ thời sinh viên đến mãi bây giờ, cảm nhận được cái tôi sử thi rồi cái tôi sử thi nhạt dần như hiện tại nhưng tôi vẫn không ngừng yêu nó.

 Nguồn: Vanvn.net


Giếng làng còn, mất trong ai?

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 21:37
Giếng làng còn, mất trong ai?
 
GIẾNG LÀNG
 
Về quê, tìm lại giếng làng
Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân

Bao phen trời đất xoay vần
Làng xưa, xóm cũ mấy lần đổi thay.
Nép sau vườn dưới vòm cây
Lòng băn khoăn: có phải đây giếng làng?

Hỡi người duyên số dở dang
Nhớ chăng đêm ấy… trăng vàng chung soi
Lỡ tay thương chiếc gàu rơi
Làm xao lòng giếng… một thời vụng yêu

Giếng làng thuở ấy trong veo
Chia khắp thiên hạ: giàu, nghèo, hèn, sang…
Gái làng tắm nước giếng làng
Tóc càng óng mượt, da càng mịn thơm!

Bây giờ nước có đầy hơn
Chạnh buồn tên giếng không còn từ lâu
Bâng khuâng cầm lại dây gàu
Buông tay nhè nhẹ… sợ đau giếng làng.

Mai Văn Hoan
 
 
Ai cũng có một vùng quê gắn bó thân thương với cổng làng, cây đa, giếng nước. Từ xưa, nhìn thấy cổng làng, giếng làng là thấy quê hương, cha mẹ, gia đình… Từ làng, ta ra với đời uống nguồn nước giếng mát trong. Và giếng nước làng vẫn trầm mặc, lặng lẽ tiễn ta đi rồi lại đón ta về.
Hôm nay, tình cờ đọc được bài thơ “Giếng làng” của Mai Văn Hoan, lòng tôi bỗng xôn xao kỷ niệm. tác giả đã đưa tôi và bạn trở về với làng quê yêu dấu.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình ảnh cái giếng làng cứ đi về trong nỗi nhớ của những người xa quê. Cái giếng đã có mặt trong đời sống của người Việt từ lâu lắm rồi. Ít nhất thì trong chuyện cổ tích, nó đã hiện hữu để cô Tấm nuôi con cá bống còn sót lại như nuôi giữ cái khát vọng hướng thiện của con người. Giếng đã đi từ huyền thoại, khi Trọng Thủy gieo mình tự vẫn để giải cái oan tình yêu cho Mỵ Châu, qua những câu thơ phồn thực mang đầy ám ảnh của Xuân Hương nữ sĩ, đến tận ngày nay.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh người xa quê về thăm làng cũ trong nỗi buồn trước sự thay đổi đến ngỡ ngàng. Người trở về như đang đứng trước một nơi khác nên băn khoăn không biết “Có phải giếng làng” hay không:
 
Về quê, tìm lại giếng làng
Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân

Bao phen trời đất xoay vần
Làng xưa, xóm cũ mấy lần đổi thay.
Nép sau vườn dưới vòm cây
Lòng băn khoăn: có phải đây giếng làng?

Những câu thơ giản dị như lời nói mộc mạc mà như xoáy vào nỗi buồn của người đã mất đi những di sản quý báu từ thời cha ông để lại.
Thời  nay, làng đã lên phố. xe đạp, xe thồ, xe bò nhường chỗ xe máy. Những dòng sông bị lấp đầy nhường chỗ cho những khu công nghiệp hay chung cư lộng lẫy.
Những ruộng lúa màu mỡ, những nương dâu hay lũy tre, ao cá, vườn chè đã biến đi nhanh chóng. Từ khi có nước máy và giếng khoan, giếng làng đã bị lấp đi nhiều. Giếng khơi, có nơi còn gọi là giếng thơi, cũng ít nhà giữ lại. Chỉ thương cho những chiếc gàu bây giờ chả biết thả về vào đâu.
 
Bao phen trời đất xoay vần
Làng xưa, xóm cũ mấy lần đổi thay
 
Trong tâm thức của mình, người làng quê xưa có thể sống thiếu ăn, thiếu mặc nhưng không thể thiếu cái giếng nước. Giếng là trái tim của làng, là cái hồn của xóm, là nơi khởi nguồn của những tình yêu trai gái. Những đêm trăng sáng, bên giếng nước, cùng những dây gàu là những lời tâm sự dưới trăng. Bởi vậy, sang khổ thứ hai, tác giả  trăn trở, nuối tiếc, hồi tưởng những kỷ niệm đẹp không phai mờ trong ký ức: “Cái đêm hôm ấy... Trăng vàng chung soi”. Dưới ánh trăng vàng, lỡ tay gàu làm xao động mặt giếng. Nhưng cũng chính cái đêm bên giếng ấy, tình yêu gọi một thời “vụng yêu”. Một tình yêu trinh nguyên trong sáng ấy đã có giếng làng bên cạnh chứng kiến. Chao ôi! Sao mà lãng mạn! Khổ thơ làm rung động trong tôi và bao người đã từng sống trong làng quê xưa. Giếng làng xưa nơi chứng kiến bao cảnh ngộ tình yêu dang dở bởi nhiều lý do:
 
Hỡi người duyên số dở dang
Nhớ chăng đêm ấy… trăng vàng chung soi
Lỡ tay thương chiếc gàu rơi
Làm xao lòng giếng… một thời vụng yêu.
 
Người trong cuộc gọi người trong cuộc như chim lẻ bầy tìm bạn chỉ còn trong dĩ vãng “Hỡi người duyên số dở dang” không biết còn nhớ hay đã quên “cái đêm ấy”… “gàu rơi”.
Vẫn là những kỷ niệm đẹp trong lòng người trở về quê. Người về cố tìm lại chính mình, tìm lại nghĩa tình làng xóm thuở trước sao mà đẹp thế.
 
Giếng làng thuở ấy trong veo
Chia khắp thiên hạ: giàu, nghèo, hèn, sang…
Gái làng tắm nước giếng làng
Tóc càng óng mượt, da càng mịn thơm!


Giếng làng hồi ấy nước trong lắm. Người trong làng nào có phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Gái làng vẫn thường dùng nước giến khơi trong. Vì thế tóc mượt, da càng mịn và thơm.
Dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, xây bằng gạch, đất hay đá ong, giếng vẫn là nơi gắn bó với đời sống nhiều nhất. Đình thì khi nào có lễ có hội mới ra, chứ giếng làng thì hôm nào chẳng đến. Cuộc sống quần cư biến cái giếng trở thành tâm điểm của làng. Người ta ra giếng lấy nước, tranh thủ hỏi nhau về công điểm, về lứa lợn, về chuyện nhà ông nọ làm đám bao nhiêu mâm, con gái bà kia lấy chồng tốt số... Trai gái làng ra giếng tranh thủ chòng ghẹo nhau hay hẹn hò. Cái giếng làng đã chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc tình, của biết bao nhiêu thế hệ.
Khổ thơ cuối chứa chấp nỗi buồn day dứt. Đời cũng khác mà Tình cũng khác:
 
Bây giờ nước có đầy hơn
Chạnh buồn tên giếng không còn từ lâu
Bâng khuâng cầm lại dây gàu
Buông tay nhè nhẹ… sợ đau giếng làng.


Nước có đầy nhưng tình lại vơi. Câu thơ không nói trực tiếp nhưng ẩn chứa bao suy nghĩ về tình đời.
Cảm ơn tác giả bài thơ “Giếng làng”. Bài thơ không cần gọt giũa con chữ nhưng đã mang đến cho người đọc về nỗi nhớ thương quê da diết, nhớ hình ảnh giếng nước làng xưa với ngổn ngang lo lắng. Tôi mong sao sẽ có ngày nào đó Người Việt ta vẫn còn giếng làng, vẫn giữ lại cốt cách văn hóa làng xã và tình đời đẹp hơn. Để khi ta trở về, con cháu ta sẽ còn mang hồn đất Việt.
 
 
Trần Đức Thủy
Trường THPT Long Thạnh- Giồng Riềng- Kiên Giang
 Nguồn: Thơ Lục Bát

PHÙNG QUÁN-BỘI TRÂM,

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:56

                           PHÙNG QUÁN-BỘI TRÂM,

                         TÌNH YÊU CHẤP TAI ƯƠNG  

 

                                                                 Ngô Minh

 

          1. Tình yêu Phùng Quán- Bội Trâm là  mối tình lớn gắn liền với thăng trầm thời cuộc.  Tôi quen thân gia đình anh Phùng Quán-chị Bội Trâm đến nay độ 30 năm rồi. Anh chị coi tôi như đứa em trong nhà, có chuyện gì cũng kể, kể cả chuyện yêu nhau thời trẻ, chuyện các cô mê thơ Phùng Quán.  Từ ngày anh Phùng Quán qua đời, bao nhiêu bài viết của anh Quán hay những bài các nhà văn nhà báo viết về anh Phùng Quán, chị Bội Trâm đều gửi vào Huế cho tôi cất giữ.   Đối với tôi , Phùng Quán- Bội Trâm một tình yêu  chấp tai ương dâu bể để tạo dựng hạnh phúc của riêng mình. Anh  Quán mất  năm 1995, khi mới 64 tuổi. Chị Bội Trâm 79 tuổi đời chị đầy đắng cay đau khổ, tất cả chỉ vì chị đã gắn đời mình với một văn nhân nổi tiếng truân chuyên. Chị kể :” Anh chị bằng tuổi nhau, cùng sinh năm 1932. Năm  1955, khi 23 tuổi, chị gặp anh Quán ở Hà Nội là do trời định.  Năm 1954, Phùng Quán đang là chân  kéo phông màn của Đoàn văn công Liên Khu 4 do nhà thơ Thanh Tịnh làm Trưởng đoàn . Sau khi tham gia phục vụ bộ đội chiến dịch Điện Biên Phủ , đoàn về tới Cây Đa Tân Trào. Ở đây, Phùng Quán được  về Tổ “phóng viên” đi phục vụ việc trao trả tù binh ở Sầm Sơn, Thanh Hoá do anh Nguyễn Trần Thiết phụ trách ( Nhà văn Nguyễn Trần Thiết sinh năm 1929, quê Thanh Hoá, Đại tá, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội). Phùng Quán lúc đó chưa viết được bài báo nào cả, nên được anh Thiết phân công mang một cái máy ảnh cũ to kềnh càng “như tráp thợ cạo” để chen lấn che ống kính của các phóng viên phương Tây , cản trở họ quay cảnh tù binh Pháp được trả. Cách mạng thì nghèo. Ngay bộ đội ta vẫn không đủ gạo ăn, làm gì có nhiều tiền để phục vụ các thương binh Pháp ! Nên một số thương binh Pháp  ốm đau, gầy gò da bọc xương phải xuống tàu bằng cáng,  nếu cảnh này được quay, được viết đăng trên báo chí quốc tế, tuyên truyền nói xấu ta trước thế giới, thì cách mạng “bị mất mặt” . Sau đợt đi “ làm phóng viên” ở Sầm Sơn ấy, Phùng Quán viết được bản thảo cuốn Vượt Côn Đảo . Sau đó anh tìm về  Văn nghệ Quân đội, được nhà văn Vũ Tú Nam giúp đỡ, tiểu thuyết Vượt Côn Đảo được in và được đánh giá cao, được giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu. Từ đó Phùng Quán được giữ lại Văn nghệ quân đội ...

 

            Ở Văn nghệ quân đội, Phùng Quán quen với em trai chị Vũ Bội Trâm , nhạc sĩ Vũ Hướng.  Phùng Quán lúc đầu đóng quân ở Cửa Đông rồi sau chuyển về 4-Lý Nam Đế , hay qua lại số 3-Hàng Cân để chơi với anh  Vũ Hướng và được cha mẹ chị thương như con trong nhà. Gặp Phùng Quán chị Bội Trâm bị “tiếng sét ái tình”. Các con anh chị  là Phùng Đỗ Quyên, Phùng Quân sau này thường hỏi: “Mẹ yêu cha vì cha đẹp trai hay vì cha làm thơ hay?”. Phùng Quán thời trẻ  cao lớn, đẹp trai thật, nhưng chị lại trả lời con :”  Có lẽ mạ yêu bố  ấy vì yêu thơ. Thơ bố hợp với cái tạng của mẹ: Yêu ai cứ bảo ràng yêu/ Ghét ai cứ bảo rằng ghét/ Dù ai cầm dao doạ giết/ Cũng không nói ghét thành yêu…

 

              Chị Bội Trâm yêu anh lúc mà cuộc đời anh Quán cơ cực đau khổ nhất. Anh là “phần tử Nhân văn Giai phẩm”, dù có tác phẩm Vượt Côn Đảo tiếng tăm lững lẫy, có lúc được Ban Thống Nhất trung ương mời đến ký tặng đến 3000 cuốn để chuyển vào tặng đồng bào miền Nam, vẫn vị đuổi khỏi quân đội, khai trừ khỏi Hội Nhà văn. Giữa Hà Nội phố phường xa lạ, anh không người thân, kể cả những người chú ruột, người cậu là những quan chức đầy quyền lực cũng  xa lánh anh.  Bạn bè thì sợ liên luỵ nên không ai dám gần. Chữ “ Nhân văn” sang trọng thể phút chốc trở thành một chữ mang nghĩa xấu làm mọi người sợ như sợ hủi.  Không nhà cửa, không có nghề ngỗng gì để sinh sống ngoài viết văn làm thơ ra. Bị đuổi khỏi quân đội, anh  không còn lương , chỉ được Hội Nhà văn trợ cấp mỗi tháng 27 đồng chỉ đủ để ăn cơm “đầu ghế”, bây giờ gọi là cơm bụi. Có lúc anh muốn về Quảng Bình sống bằng nghề câu cá trên sông Nhật Lệ  đẻ tìm cách về Huế.May có  chị Bội Trâm...

 

           2. Chị Bội Trâm lúc đó là cô gái Hà Thành xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình gia giáo, lại là giáo viên dạy văn của một trường danh giá:  Trường Chu văn An. Chị yêu nhà thơ “nhân văn” Phùng Quán, gia đình không đồng ý. Mẹ bảo :” Lấy chồng như thế thì thà nhảy nhảy xuống giếng cho xong”. Chỉ kể:” Chị đã nói với bố mẹ rằng: Con đã yêu anh Quán nên con không thể yêu người khác nữa. Nếu bố mẹ không cho con lấy, con xin vâng lời, nhưng con sẽ không lấy người đàn ông nào khác nữa”. Nhà trường thì kiểm điểm lên kiểm điểm xuống vì kết hôn với “bọn Nhân văn Gia phẩm”…Chị đã khóc bao đêm  ròng vì người ta không hiểu mình, không hiểu người mình yêu. Khóc đến cạn nước mắt để đi đến quyết định gan góc : Lấy  Phùng Quán làm chồng ! Chị đã quyết đến với anh, chị muốn lấy tình yêu của mình để che chở cho trái tim đau khổ cô đơn của anh. Cả đời chị chỉ có một người yêu duy nhất : Đó là Phùng Quán ! Chị kể với tôi :”Nhiều lúc chị sợ anh tự vẫn. Chị nghĩ mình cần phải gắn bó với anh để ràng buộc anh với cuộc đời!” Nên chị đã khẳng khái trước mọi người :” Người mà tôi lấy làm chồng chỉ có thể là người tốt. Thời gian sẽ chứng minh điều đó !”. Và chị đã đúng. 30 năm sau, Phùng Quán đã được phục hồi hội viên Hội Nhà văn, được in sách, được viết và được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Đó là hạnh phúc mà chị phải đổi bằng nước mắt và khổ đau, đổi bằng tuổi thanh xuân mơ mộng...

 

          Lấy một “phần tử Nhân văn ” nên anh chị không thể tổ chức đám cưới đàng hoàng như mọi đám cưới bình thường khác. Vì không thể đứng tên chú rể Phùng Quán trên thiếp mời. Chị Vũ Bội Trâm có lẽ là người con gái Việt Nam duy nhất lấy chồng không có lễ tơ hồng, không đám cưới, không được mặc áo cưới, không lên xe hoa, không có đưa dâu, không có phòng tân hôn sang trọng, không chụp ảnh, quay phim, không có bà con hai họ và bạn bè dự tiệc cưới đông vui… Còn Phùng Quán là một chàng trai cô độc, được  bà mẹ Tưởng Dơi bên Nghi Tàm nhận làm con nuôi. Mẹ Dơi là mẹ liệt sĩ, sống độc thân, nên  rất thương Phùng Quán. Còn  mẹ Phùng Quán  là một phụ nữ Hoàng tộc tên Công Tằng Tôn Nữ Thị Tứ, ( theo đế hệ triều Nguyễn : Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh... thì bà thuộc hệ Bửu ). Bà là một phụ nữ có nhan sắc và chữ nghĩa. Mới lấy chồng sinh con chưa được 1 năm, thì chồng bị Pháp giết, bà ở vậy nuôi con ở làng Thanh Thủy Thượng cho đến khi con đi theo Vệ Quốc Đoàn, rồi thờ chồng , lúc đó đang mòn mõi đợi con cho đến lúc chết ở Cố Đô Huế năm 1970. Mẹ mong  sau hai năm hai miền  thống nhất theo Hiệp định Giơnevo để gặp con, nhưng không được. Nhũng ngày ấy bà không thể liên lạc được với con trai , nên Phùng Quán cũng không có cha mẹ bà con bên nội làm lễ bỏ sêu, lễ hỏi, lễ thành hôn như bao chàng trai khác.

         Để thông báo với bà con lối phố, chị Bội Trâm bàn với gia đình chỉ làm ít đĩa trầu cau mang đến từng nhà bảo là “trầu cau chạm ngõ của cô Trâm“. Bà mẹ buồn lắm , nhưng  phải làm theo ý con gái lớn. Thế là xong một việc. Dù đau xót, thở dài, nhưng chị đã vững lòng hơn. Đối với những người thân thiết, anh Phùng Quán làm một tấm thiếp báo tin, mặt trước là hai bông hoa do bạn thân, họa sĩ ( bây giờ là  nghệ sĩ nhân dân) Lê Huy Quang vẽ, mặt sau có đôi chim bồ câu và mấy chữ của Phùng Quán viết tay . Ví dụ thiếp báo tin gửi cho cô giáo Mai Thị Từ của Phùng Quán- Bội Trâm có nội dung :” Chúng em đã ra ở riêng ngày 12-1-1962. Chúng em nhờ những bông hoa này mang tin vui đến với cô. Mong cô chia vui và mừng cho hạnh phúc của chúng em”. Cái chữ ”ra ở riêng” ấy mới chính xác và hoàn cảnh làm sao.

 

           “Tiệc cưới” của Phùng Quán – Bội Trâm cũng lạ lùng như tình yêu của hai người. Gọi là “tiệc cưới” cho oai, thực chất là một bữa cơm tươi tại nhà bà mẹ nuôi Tưởng Dơi . Bữa cơm chỉ có bốn người khách là vợ chồng nhà thơ Tạ Vũ- Nguyễn Thị Điều, hai người bạn thân anh Quán là nhà văn Xuân Đài và nhà báo Xuân Trung. Phùng Quán ra chợ mua hai con gà về để làm tiệc thì một con chết. Câu trộm được ít cá Hà Tây , ký nợ lít rượu bà Hai Hạnh đầu phố nữa là có tiệc. Trong bữa tiệc, Phùng Quán đỉnh đạc tuyên bố :” Hôm nay là tiệc cưới của  hai chúng tôi Phùng Quán- Bội Trâm . Vợ chồng tôi rất cảm kích  trước sự có mặt của các vị đại diện cho giai cấp công nhân là anh Tạ Vũ, đại diện cho tầng lớp trí thức là anh Xuân Đài, đại diện cho lực lượng vũ trang có anh Vũ Trung, đại diện cho tầng lớp lao động có chị Nguyễn Thị Điều và mẹ Tưởng Dơi. Thế là đủ  công -nông-binh nhé !”.

         Tiệc xong, Tạ Vũ say rượu nên vợ chồng phải ngủ lại. Nhà bà Tưởng Giơi có một cái giường đơn, nhà thơ Phan Vũ ở xưởng phim truyện cho mượn thêm cái giường cá nhân của anh nữa. Hai cái giường kê sát nhau, chỉ lọt bàn chân. “Đêm tân hôn” ấy vợ chồng Phùng Quán – Bội Trâm ngủ trên cái gường đơn ấy cạnh vợ chồng Tạ Vũ. Thật là một tiệc cưới và đêm tân hôn chưa từng có trên đời. Nhưng đó chỉ là những đau khổ vật chất, nó không lớn, không giày vò bằng những  đau đớn về tinh thần khi bao nhiêu năm ròng chị phải nghe những lời dèm pha, dè bỉu của người đời , “ con nớ/ con kia  lấy  thằng  nhân văn !”.v.v..

 

          3.  Lấy nhau 20 năm, đã có hai đứa con là Phùng Đỗ Quyên (1963) và Phùng Quân ( 1965) , mà mẹ con chị Bội Trâm vẫn ở nhà mẹ ở Hàng Cân, còn Phùng Quán thì trú ở nhà bà Tưởng Dơi. Một tuần chị Trâm mới đến thăm chồng một lần. Những năm tháng ấy, Phùng Quán thường xuyên đi cải tạo lao động ở các công trường, nông trường ở Thái Bình, Thanh Hoá, Việt Trì, rồi đi tăng gia một mình ở rừng núi Thái Nguyên suốt ba năm liền… Vì phải “phấn đấu cải tạo tốt”, nên có khi nửa năm không về gặp vợ cơn. Gay go nhất là tiền mua sữa, mua sắm tả lót cho con. Tất cả trông nhờ vào đồng lương giáo viên ít ỏi của chị Trâm và mấy đồng tiền câu trộm cá của Phùng Quán. Những ngày ấy, bạn bè chí cốt như nhà văn Tuân Nguyễn ( đã mất) , Xuân Đài…phải san sẻ chút tiền lương ít ởi để cho chị Trâm mua sữa nuôi con. Bao nhiêu cơ cực dồn lên đôi vai gầy nhỏ của chị. Thương chồng, chị Bội Trâm chỉ biết nuốt đau thương để nuôi con. Năm 1981, Trường Chu Văn An thương tình mới cho vợ chồng Quán -Trâm một góc nhỏ khoảng chục mét vuông phía sau trường vốn là nơi chứa đồ mộc thí nghiệm của trường. Dù khổ, vợ chồng cũng đã được sống bên nhau để cùng nuôi con. Phùng Quán đêm ngày “cá trộm, vui chui, rượu chịu”. Rồi nhờ anh bạn Phùng Xuân Bính ở Nhà văn hóa lao động Hà Nội giúp ít gỗ thải loại, hoạ sĩ Hương Quân ( một người yêu sâu sắc nữa của Phùng Quán) ở Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc cho tiền mua lá gồi, Phùng Quán cặm cui đục đẽo làm được cái “chòi ngắm sóng” . Vợ chồng  Quán - Trâm sống ở cái chòi ngắm sóng ấy đến khi anh qua đời . Rồi gian nhà sau trường Chu văn An ấy bị giải toả. Nhờ tiền đền bù, chị Bội Trâm tậu được ngôi nhà đàng hoàng ở tầng hai Khu chung cư Vĩnh Phú, thì anh Quán không còn nữa. Chị Bội Trâm dành hẳn một phòng căn nhà mới ấy để thờ chồng và để trưng bày các kỷ vật của anh chuyển từ Chòi ngắm sóng về.

 

          Khi Phùng Quán vừa được niềm vui được phục hồi Hội nhà văn, được in sách với cái tên của mình, thì chị Bội Trâm bị căn bệnh hiểm nghèo : Ung thư vú. Đó là năm 1987. Chị Trâm lúc đó vừa được mổ, được điều trị bằng tia phóng xạ, nhưng cái tay phải vẫn to phình lên. Đêm ngủ phải buộc cái dây để treo tay lên không lủng lẳng. Bệnh tật như thế nhưng chị vẫn hàng ngày cơm nước chăm chồng con, lo đồ nhậu mỗi khi bạn bè văn chương tới. Những ngày đó, buổi sáng nào thức dậy trên Chòi ngắm sóng, sau khi làm chén rươụ “diệt sâu bọ”, Phùng Quán đều đọc bài thơ “Kinh cầu nguyên buối sáng” tặng vợ : Tôi sẽ đi với em/ Cho đến tận mút chót con đường / Cho đến lúc tôi nằm dài dưới đáy huyệt ! / Có thể em chết trước tôi / Cũng có thể tôi chết trước em / Nhưng không sao cả em ơi/ Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền / Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường / Tôi sẽ bị trời chu đất diệt !…”. Nhưng nhà thơ Phùng Quán đã ra đi trước vợ đến 15 năm. Anh mất tháng 1 năm 1995 vì bệnh xơ gan cổ trướng…

 

        15 năm anh Phùng Quán xa cõi tạm, chị Vũ Bội Trâm đã lao động hết sức mình để tiếp tục giới thiệu với bạn đọc những tác phẩm của chồng. Chị dành những năm tháng còn lại của cuộc đời mình để sắp xếp, chăm chút những trang bản thảo của chồng. Đằng sau những trang di cảo là tấm lòng của người vợ muốn tìm và chia sẻ, cảm thông với tâm sự của chồng. Chị đọc và chọn tuyển tập Thơ Phùng Quán cho nhà xuất bản Văn học 2003, chị cùng với tôi làm nhiều tập sách về Phùng Quán như Nhớ Phùng Quán, Phùng Quán còn đây, Phùng Quán- Ba phút sự thật. Chị còn cắm cúi đọc lại từng chồng di cảo đã ố vàng mà chồng để lại và đã phát hiện ra tập bản thảo “ Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào”, đưa đến bạn đọc một tập hồi ký chân thực và hấp dẫn. Hôm ra mắt cuốn sách ”Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” ở Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Hoa Lư, tháng 10/2007, chị Bội Trâm nói với mọi người : “Hơn 30 năm sống với chồng nhưng giờ đây,qua tác phẩm này, tôi mới hiểu hết anh ấy!”.

       

           4.  Tình yêu Phùng Quán - Bội Trâm đã bất chấp tai ương để đơm hoa kết trái. . Phùng Quán hay đi đây đi đó suốt ngày đọc thơ “phục vụ nhân dân”.Vì thế mà anh có rất nhiều người “trộm yêu thầm nhớ”. Là nhà thơ đa tình, Phùng  Quán cũng đã không ít lần bị “tiếng sét ái tình” đánh gục. Chị Vũ Bội Trâm biết tất cả điều đó, nhưng tình yêu Phùng Quán Bội Trâm là tình yêu lớn, nên chị Bội Trâm rất yêu tin chống, chị  bao giờ cũng cho rằng, những người đó chỉ là “nàng thơ”, tức là cái cớ để anh Quán làm thơ mà thôi!   

           Mùa hè  1984, sau 30 năm “Nhân văn ”, và sau gần 40 năm trốn mẹ đi theo Vệ Quốc Đoàn, Phùng Quán mới trở về Huế quê hương . Những ngày đó anh bị người đẹp Nguyễn Khoa Như Ý ( Hà Khánh Linh) hớp hồn . Anh lại hồi sinh với thơ . Anh làm thơ gấp gáp không kịp ăn, không kịp thở. Làm xong  chép lại một bản đàng hoàng rồi xỏ dép lốp, đạp xe cuốc Liên Xô về 26- Lê Lợi để tặng Nàng. Anh gầy đi từng ngày. Tặng xong hơn chục bài thơ, ra Hà Nôi anh sắp xếp, thêm thắt và đặt tên là “ Tiểu thuyết tình 13 chương viết trên giấy có kẻ dòng”.  Sau đó, viết thêm lời “đề từ” vào  13 bài thơ thành mỗi bài là một chương dày dặn và lấy tên “ Trăng Hoàng Cung” với câu chua “tiểu thuyết tình 13 chương”.

           Phùng Quán đã bị vẻ đẹp đài các, dịu dàng của người phụ nữ Huế mê hoặc, không cưỡng lại được. Nhà thơ sống lơ ngơ như lần đầu được yêu . Bồn chồn. Thắc thỏm mong chờ. Sớm gặp. Chiều lại gặp. “Tôi ngất ngưỡng sống , ngất ngưỡng thơ. Ngất ngưỡng say…Và tôi ngất ngưỡng  gặp  Nàng…”.  Thơ trong Trăng Hoàng Cung  tinh diệu, đằm thắm và sâu sắc : Tôi ngồi đá mọc thành thơ / Ngóng về  cửa Thuận… tôi chờ đò lên/ Một đò lên…/Hai đò lên…/Ba đò lên…/Mà sao tôi chẳng thấy em trong đò Có những câu thơ tình thuộc vào loại “ Những câu thơ tài hoa” của Việt Nam : Từ chất liệu gì mà Trăng bày đặt ra em ?.../ Một vùng tóc như một vùng biển tối / Vừng mắt em thăm thẳm tia nhìn / Những ngón tay ngón chân có mùi hoa đại / Cái cổ trần như rong dưới đáy sông Hương .v.v.. Có yêu đắm đuối nồng mới viết được những câu thơ đẹp đến nao lòng như thế !

          Thơ tặng “nàng thơ” say đắm thế, nhưng chị Bội Trâm vẫn không tỏ ra ghen tức. Nhà văn Hà Khánh Kinh ra Hà Nội đến thăm Phùng Quán, chị vẫn làm cơm thết đãi đàng hoàng, vẫn chị chị, em em đi chợ ríu rít. Sau khi anh Phùng Quán mất, chị tập hợp  bản thảo của chồng để Nhà xuất bản Văn học in tập Thơ Phùng Quán đày hơn 300 trang. Chị gửi một cuốn tặng Hà Khánh Linh với lời đề tặng rất đẹp :  “ Yêu quý tặng Hà Khánh Linh và cảm  ơn em đã có những ngày cho anh Quán hồi sinh với thơ ở Huế...”.

            Một lần đọc lai cảo  để lại của chồng, chị Trâm  phát hiện ra bản thảo “Tôi đã trỏa thành nhà văn như thế nào ?” . Lần này lại một mối tình nữa , mà hình như là mối tình đầu ly kỳ hơn đã được Phùng Quán tự kể. Phùng Quán là một nhà  văn lạ lùng, luôn luôn làm mọi người bất ngờ hết chuyện này đến chuyện khác.  Riêng chuyện tình năm 22 tuổi này thì ngay cả vợ con và bạn bè thân quen anh cũng bị bất ngờ. Trong bài viết “ Tôi soạn Di cảo của Anh” in ở cuối sách “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” , chị Vũ Thị Bội Trâm viết :” … vô tình tôi phát hiện ra một cuốn sổ đã cũ trong số bộn bề những sổ tay ghi chép của anh, giở ra đọc thì thấy đó là những trang  anh viết về khúc quanh của cuộc đời. Càng đọc tôi càng bị thu hút bởi những chuyện mà sau bao nhiêu năm chung sống nay tôi mới được tỏ tường…”. Đó là chuyện  Phùng Quán kể lại việc mình về Sầm Sơn làm “phóng viên” trao trả tù binh giữa ta và Pháp. Anh ở trọ ở thôn Hải Như, ở trong nhà có cô gái  16 tuổi tên  là Như. Anh  viết bản thảo cuốn  Vượt Côn Đảo rồi đưa cho Như đọc. Rồi những trang  bản thảo đã dắt họ đến gần nhau. Một lần…” Tôi ngồi xuống cạnh em, bất chợt ngoảnh sang nhìn em. Lồng ngực tôi đánh đến nỗi làm mắt tôi mờ đi. Tôi chưa bao giờ thấy em đẹp như thế. .. Hai má màu hoa lựu và cặp môi đỏ ướt một cách khác thường. Đầu óc tôi quay cuồng... Em sắp lấy chồng, là chàng trai biển, con một nhà giàu có ở xóm trên.... Như đang mê sảng, tôi đưa tay vòng vào cổ mảnh dẻ của em, vòng qua mái tóc xoả vai, kéo mặt em sát mặt tôi. Tôi cúi xuống hôn vụng về  lên môi em. Cả người tôi như tan ra trong hoan lạc... ‘’

           Sau cái hôn đầu tiên đó Phùng Quán run lên  vì lo lắng và xấu hổ. Những ngày mới hoà bình kỷ luật quân đội vô cùng nghiêm khắc. Quan hệ với phụ nữ nơi đóng quân là quan  hệ bất chính. Đó là một tội lỗi xấu xa và ghê tởm nhất. Nếu cấp trên phát hiện ra Phùng Quán sẽ bị kỷ luật rất nặng, có thể đuổi khỏi quân đội ngay lập tức. Sợ quá, hai ngày sau, Phùng Quán xin Tổ phóng viên chuyển về đơn vị cũ, rồi khoác ba lô chuồn khỏi Hải Thôn Sầm Sơn. Đi như một người chạy trốn.  Khi Phùng Quán rời Sầm Sơn được bốn năm cây số thì cô Như chạy đuổi theo, hét lên : ‘’- Anh Quán , Anh Quán ơi !’’. Rồi Như  úp gương mặt đầm đìa mồ hôi vào ngực Phùng Quán, nức nở : ‘’ Em thương anh ! Em thương anh ! Anh không biết gì cả ?.. ‘’. Rồi Như  đã nói thẳng ý định của mình :’’ Em định nói với bố mẹ trả lại lễ vật cho nhà trai, rồi em đợi anh... ‘’  

          Đọc hồi ức về tinh yêu đầu đời của chồng, chị Bội Trâm không những không ghen mà còn  điện báo cho Nguyễn Đức Bình , giám đốc Nhà xuất bản Văn nghệ biết, và Bình đã cho người đến cùng chị Bội Trâm tu chỉnh bản thảo rồi đem in thành sách ( 2007). Điều lạ lùng là Thu Dịu, người mà nhà xuất bản nhờ đến  giúp chị Bội Trâm ấy, còn  phát hiện ra  là cô Như ở thôn Hải Như, Sầm Sơn ấy còn sống, tên là Nhủ chứ không phải Như như Phùng Quán nhớ.  Nghe thế, chị Bội Trâm  vội  gói cuốn Vượt Côn Đảo và tấm ảnh anh Quán mặc đồ bộ đội chụp năm 1954 gửi tặng người yêu cũ của chống mình với lời đề tặng  rất chân thành và lời  biết ơn  người đã động viên anh Quán có cuốn Vượt Côn Đảo . Sau chuyến đi Sầm Sơn ra lại Hà Nội ,Thu Dịu trân trọng chuyển chị Bội Trâm món quà của ‘’Như Phùng Quán ‘’. Đó là năm con mực to dài, phơi chưa khô lắm, nhưng thơm nức với lời nhắn rằng, ‘’gia đình làm nghề biển, gửi bà vợ nhà văn Phùng Quán để bày tỏ tấm lòng của người cũ và  xin mời bà có dịp về thăm Sầm Sơn , để chị em hàn huyên‘’. Câu chuyện tình giống y như tiểu thuyết  hư cấu!

 

             Chị Bội Trâm ơi, chị là người biết yêu tha thiết , biết tin ở người yêu của mình , tin ở lẽ công bằng, tin ở thời gian, nên tình yêu Phùng Quán- Bội Trâm đã thắng tai ương cuộc đời. Mối lần ra Hà Nội đến thăm chị ở khu chung cư Vĩnh Phú, tôi thực sự cảm phục sức làm việc của chị . Bị nhiều thứ bệnh nan y thế mà chị vẫn đọc những trang di cảo đã nhoè mực vàng nát của anh, để chia sẻ với anh những câu thơ, những ghi chép về cuộc đời.  Khi ra Hà Nội, tôi thấy ngày nào chị cũng thắp nhang, rót rượu lên bàn thờ anh Quán rồi khấn : Anh Quán ơi, anh đã cho em được sống , được làm người như em muốn!...

 

 

     (Bài đã đăng trên Nguyệt san ĐANG YÊU, SỐ THÁNG 7-2010 )   

 


Giáo sư Nguyễn Hữu Đức - với công nghệ Nano tại Việt Nam.

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 17:56

Mai Văn Hoan xin giới thiệu bài viết về Giáo sư Nguyễn Hữu Đức - em con dì ruột của Mai Văn Hoan

Giáo sư Nguyễn Hữu Đức - với công nghệ Nano tại Việt Nam.

 
Nguyễn Hữu Đức, giáo sư trẻ nhất Việt Nam và được coi là "một ngoại lệ xuất sắc", gây bất ngờ lớn trong đợt phong giáo sư năm 2005 - một người con của tỉnh Quảng Bình - một nhà khoa học trẻ đã cùng số ít các nhà khoa học khác, đi tiên phong trong việc nghiên cứu và thúc đẩy sự phát triển công nghệ nano tại Việt Nam.



Từ cơ duyên cuộc đời đến "hữu duyên" với công nghệ Nano

   Trong cuộc đời của mỗi con người, có những cơ duyên hướng người ta vào những công việc tưởng chừng như không phải là sở trường của mình. Thế nhưng, đó lại là sự sắp đặt diệu kỳ của số phận, đem lại những tài năng xuất chúng, đóng góp cho cuộc đời những tinh hoa của nhân loại. Anh cũng là một trong những trường hợp như vậy, đó là Giáo sư Nguyễn Hữu Đức - một nhà khoa học trẻ đã cùng số ít các nhà khoa học khác, đi tiên phong trong việc nghiên cứu và thúc đẩy sự phát triển công nghệ nano tại Việt Nam.

   Lọt “mắt xanh” và “cơ duyên cuộc đời”

   Nhớ lại chuyện thời thơ ấu, đôi lúc vị Giáo sư 46 tuổi cũng không lý giải nổi cơ duyên, định mệnh đã run rủi anh đi theo con đường nghiên cứu khoa học - con đường của tư duy chính xác. Ngược lại hẳn với người thân trong gia đình, đều là những diễn viên có tiếng của Đoàn Văn công, Ty Văn hoá Quảng Bình. Khi còn sống, đã không ít lần bố anh định gửi đứa con trai lớn ra học tại Nhạc viện Hà Nội. Rồi những năm tháng sau, khi anh 14 tuổi, cả bố và mẹ đều theo nhau về nơi chín suối, nỗi nhọc nhằn của tuổi thơ đã cuốn trôi mất những giấc mơ làm diễn viên thủa thiếu thời. Bây giờ đôi lúc hiếm hoi được ngồi nghe cô con gái nhỏ chơi đàn piano, tâm hồn vị Giáo sư trẻ lại bay bổng, nhớ về làn gió mát của sông Gianh, mạch nước trong nguồn Son, nguồn Nậy.
   Thẳm sâu trong ký ức của mình, Giáo sư Đức có một khoảng lặng để lội ngược thời gian, về với thời ấu thơ tại quê hương Bố Trạch, Quảng Bình. Bố mẹ mất sớm, cuộc sống của cậu bé Đức cùng ba em nhỏ nương nhờ váo sự tần tảo của bà nội. Ngày ngày, một buổi đi học, một buổi anh cả Đức len lỏi khắp các ngõ ngách của bến phà Gianh, mong bán hết được rổ bánh rán, chục quả trứng luộc... kiếm thêm chút tiền, giúp bà nuôi ba em nhỏ. Dù không có điều kiện học tập như các bạn cùng trang lứa, nhưng với ý chí của mình cùng với những lời răn dạy của bà khắc sâu trong tâm khảm, cậu bé Đức luôn đứng đầu trong các kỳ thi của trường. Năm 1976, tạm biệt mảnh đất của cát trắng và gió lào, cậu học sinh Đức nhập học vào khoa Vật lý, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường ĐHKHTN - ĐHQGHN).
   Không ít người cho rằng, thành công trong sự nghiệp của Giáo sư Đức hôm nay một phần nhờ được tiếp cận với các giáo sư nước ngoài từ khi còn rất trẻ. Nhưng không phải như vậy, người thầy có ảnh hưởng đặc biệt tới quá trình nghiên cứu khoa học và nghề nghiệp của anh lại là một người Việt Nam, đó là Giáo sư Thân Đức Hiền (nguyên Vụ trưởng vụ Khoa học công nghệ - Bộ Giáo dục và Đào tạo), khi đó là Trưởng phòng thí nghiệm nơi nghiên cứu viên Nguyễn Hữu Đức đang công tác. Những kỷ niệm khi còn làm việc với Giáo sư Hiền dù đã hơn 20 năm trôi qua, vẫn còn tươi rói trong ký ức vị Giáo sư trẻ tuổi này. “Cách suy nghĩ, lý giải các hiện tượng của thầy Hiền luôn gợi mở trong tôi những ý tưởng sáng tạo. Phong cách làm việc, mô hình đào tạo mà giáo sư Hiền đã áp dụng tại thời điểm đó là rất mới, tạo điều kiện đào tạo được các nhà vật lý trẻ đạt học vị tiến sỹ ở tuổi xấp xỉ 30. Tuy không hoàn toàn nhận được sự ủng hộ của mọi người, nhưng thời gian đã là thước đo vô cùng chính xác. Trong cuộc sống ngày hôm nay, nhiều điều thầy đã từng chỉ bảo tôi vẫn luôn luôn đúng”, anh luôn tâm sự như vậy về người thầy đáng kính của mình.
Và những công trình nghiên cứu

   Khi đang học năm thứ 3, năm 1979, anh sinh viên Đức đã có công trình nghiên cứu khoa học được giải thưởng về đề tài “Tìm hiểu các phương pháp đo mức Heli lỏng”. Giáo sư Đức nhớ lại lần chọn đề tài cho khoá luận tốt nghiệp, suýt nữa anh đã không đi theo hướng nghiên cứu vật liệu từ. Nguyên nhân là vào những năm tháng đó, công nghệ bán dẫn có sức hút mạnh mẽ với cả xã hội, không chỉ có anh, mà các sinh viên ngành vật lý đều muốn được chọn đề tài vật lý bán dẫn. Đến lượt anh, thì không còn người nhận hướng dẫn, nên anh đành phải chuyển đề tài. Đó chính là khúc ngoặt đã giúp anh có cơ duyên gặp được giáo sư Hiền.
   Theo đó, không ít cơ may đã đến với anh. Năm 1980, hoàn thành xuất sắc khoá luận tốt nghiệp và được giữ lại làm nghiên cứu viên tại phòng thí nghiệm do giáo sư Hiền lãnh đạo. Tiếp ngay sau đó, khi Việt Nam được tổ chức phi chính phủ tài trợ cho chương trình hợp tác giữa các trường đại học của hai nước Hà Lan và Việt Nam (gọi tắt là Chương trình VH). Anh đã được tham gia với đề tài VH13 về vật lý nhiệt độ thấp do giáo sư Hiền làm chủ nhiệm. Lần đầu tiên, Việt Nam có một phòng thí nghiệm nghiên cứu vật lý thực nghiệm với các trang thiết bị nghiên cứu khoa học khá hiện đại. Khi đảm nhận trách nhiệm chủ nhiệm bộ môn Vật lý nhiệt độ thấp (1999 - 2003), Giáo sư Đức đã tổ chức hợp tác rộng rãi trong hoạt động nghiên cứu khoa học giữa các nhà vật lý từ học của Việt Nam với các nhà khoa học của các nước trên thế giới.
   Vị giáo sư trẻ không khỏi bồi hồi nhớ lại những tháng ngày mới chập chững trên con đường khoa học, khi công trình nghiên cứu đầu tiên “Tính chất từ của các hợp chất đất hiếm - đồng ở nhiệt độ thấp” mà anh cùng nhóm cộng sự của mình thực hiện, được đăng trên tạp chí Khoa học quốc tế. Đó là niềm khích lệ rất lớn, là động lực thôi thúc anh tiếp tục công bố những gì thu nhận được trong quá trình nghiên cứu sau này. Nhiều bài của anh được các nhà khoa học nước ngoài đánh giá cao và trích dẫn rất nhiều lần trong các báo cáo khoa học của họ. Cụ thể như công trình khoa học: “Tương tác trao đổi trong các hợp chất đất hiếm - kim loại chuyển tiếp” của anh (công bố từ năm 1992) được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm, với hơn 55 lần trích dẫn để biện chứng cho đề tài khoa học của họ. Theo Giáo sư Đức, đây là cách tốt để trao đổi thông tin khoa học, đánh giá các nhận biết của mình, và nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học nước ngoài. Giáo sư J.J.M. Franse, Giáo sư D.Givord (Viện nghiên cứu Từ học mang tên Louis Néel - Cộng hoà Pháp) vẫn luôn cho anh những lời nhận xét chính xác và bổ ích về những nghiên cứu mới của anh.
   Cho đến nay, Giáo sư Đức đã có 5 tập sách chuyên khảo được ấn hành tại các nhà xuất bản có danh tiếng ở nước ngoài, hàng trăm công trình được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước. Không ít lần, anh được mời đến trình bày báo cáo tại các hội thảo khoa học Vật lý của khu vực và thế giới với tư cách là nhà khoa học có báo cáo đặt hàng chủ chốt. Anh cũng thường xuyên được mời đi thỉnh giảng tại các trường đại học của Pháp, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc... Tháng 10/2004, anh đã được hội Vật lý Châu á Thái Bình Dương trao tặng giải thưởng: Nhà khoa học trẻ có những đóng góp về nghiên cứu từ tính của các vật liệu đất hiếm - kim loại chuyển tiếp. Sau đó, anh là người trẻ tuổi nhất được nhận chức danh Giáo sư của năm 2004, dù chưa đến niên hạn, nhờ vào công trình nghiên cứu “Kết hợp từ giảo và hệ số từ giảo khổng lồ trong các màng mỏng có cấu trúc nano đa lớp” của nhóm anh vừa xuất bản trên tạp chí Applied Physics Letters của Viện Vật lý Mỹ vào cuối tháng 8 vừa qua, là một trong 6 công trình vinh dự được nhận giải thưởng Công trình khoa học tiêu biểu của ĐHQG HN năm 2004. 
   Tôi còn nhớ, một lần, Giáo sư Nguyễn Châu - Giám đốc Trung tâm Khoa học vật liệu, khoa Vật lý, trường ĐHKHTN giới thiệu đề tài khoa học “Vật liệu từ tính mới mang dạng khối, màng mỏng và nano thể”, trong đó có sự đóng góp lớn của Giáo sư Đức. Theo lời Giáo sư Châu, Giáo sư Đức là một trong số ít người đi tiên phong trong việc nghiên cứu và thúc đẩy sự phát triển công nghệ nano tại Việt Nam. Và đặc biệt dù non trẻ, nhưng công nghệ nano ở Việt Nam đã có những nghiên cứu sát với sự phát triển của thế giới.

Sự phát triển của công nghệ nano tại Việt Nam

   Dấu ấn đậm nét của Giáo sư Đức đối với sự phát triển công nghệ nano chính là việc anh bắt đầu nghiên cứu về vật liệu từ có cấu trúc nano - một hướng nghiên cứu mới mẻ hiện đang được giới khoa học quốc tế và trong nước quan tâm, đầu tư mạnh mẽ. Trong quá trình nghiên cứu về công nghệ này, anh cùng đồng sự đã tiếp cận được với trình độ quốc tế, tạo được một nguồn nhân lực cho việc triển khai ứng dụng công nghệ mới này ở Việt Nam trong thời gian tới. Anh cho rằng, việc có một mạng lưới hợp tác nghiên cứu khoa học có hiệu quả với nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển hướng nghiên cứu này. Cũng nằm trong chương trình công nghệ nano, anh còn ấp ủ ý định nghiên cứu ứng dụng của các hạt nano trong y - sinh học để chẩn đoán và chữa bệnh. Cùng với anh, nhóm các nhà khoa học của giáo sư Phạm Thị Trân Châu (Trung tâm Công nghệ sinh học - ĐHQG HN), Phó giáo sư Nông Văn Hải (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) đang thảo luận để khởi động kế hoạch nói trên. 
   Hiện Giáo sư Đức đang là Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (ĐHQG HN). Trong đó, anh đã áp dụng một mô hình đào tạo cán bộ khoa học mới có trình độ công nghệ cao, gắn liền với thực tiễn và địa chỉ sử dụng ở Việt Nam, tạo điều kiện nâng cao năng lực nghiên cứu cho cả giảng viên và học viên, giảm thiểu được hiện tượng chảy máu chất xám. Trong năm 2004, ba nghiên cứu sinh đầu tiên của trường ĐHKHTN, Đại học Công nghệ và ĐHKHXH&NV đã bắt đầu thực hiện chu trình nghiên cứu của họ tại châu Âu. Tết này, những lời chúc mừng của các nghiên cứu sinh gửi về từ xứ sở của tuyết đã làm ấm lòng những người dày công vun đắp cho mô hình này.

 


(irv.moi.gov.vn)

CÕI THƠ HẢI KỲ

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 15:25

 Nhà thơ Hải Kỳ vừa rời cõi tạm lúc 18g30 ngày 23 -7 - 2011 tại thành phố Đồng Hới. Mai Văn Hoan xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết sau đây như là một nén hương tưởng nhớ người bạn thơ thân thiết của Mai Văn Hoan.                                    

                                              CÕI THƠ  HẢI  KỲ

       Bạn bè nói Hải Kỳ đã tạo được một cõi thơ riêng. Anh có vương quốc thơ của mình. Ở đó anh đào tận cùng cái tôi - thi - sĩ mà có một thời khá dài người ta né tránh. Hải Kỳ không đợi đến lúc có làn gió đổi mới mới dám nói đến cái tôi, mới dám hướng vào nội tâm. Anh thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng Hải Kỳ thật sự khởi sắc vào những năm 1978 - 1988. Đó là những năm đất nước còn nhiều khó khăn và thơ anh chứa đầy tâm trạng của cái tôi trữ tình.

      

       Đọc thơ Hải Kỳ tôi ít quan tâm thơ anh cũ hay mới, hiện thực hay lãng mạn, tự sự hay trữ tình, cổ điển hay hiện đại... Cái làm tôi chú ý nhất là nỗi niềm của anh. Thơ anh có bài hay có bài chưa thật hay nhưng tất cả đều thành thực - thành thực như bản tính của anh. Hải Kỳ vốn bộc trực có gì cứ nói toạc ra, chẳng nể nang, chẳng e dè, chẳng vòng vo tam quốc. Hải Kỳ không biết giấu mình trong thơ. Anh cứ dại khờ một cách hết sức đáng yêu. Chân dung Hải Kỳ  lồ lộ trong thơ anh. Ở bài Mẹ tôi,  Hải Kỳ thú nhận: Tôi còn bé đã rong chơi / Nhiều khi đến tắt mặt trời còn đi ...  Và cái tính thích rong chơi ấy vẫn theo anh cho đến bây giờ. Ở đâu có Hải Kỳ ở đó có những cuộc vui. Anh thành thật thú nhận:  Với người đẹp tôi thường để ý / Và nhiều khi khen ngợi thành lời. Vì vậy, Hải Kỳ mê ai là bạn bè biết ngay. Có một thời chúng tôi hay la cà ở lò rượu chị Hiếu ở dốc Phú Cam và anh đã bị người đẹp hớp hồn:  Em non dại và tôi không thể khác / Đành gọi em như cách gọi bao người / - Bé ơi bé , cho rượu nào ! Tôi nhắc / Rượu thì say tôi uống đến đầy tôi / Em non dại và tôi im lặng / Đến rồi đi như thể vô tình / Nhưng lạy chúa ! Tôi viết bài thơ tặng / Rượu thì say quên cả giữ gìn... Vào nhà thờ , trong đêm nô en khi ở bên trong cha cố đang giảng đạo thì ở ngoài sân một tốp nam nữ thanh niên xúm đến chung quanh Hải Kỳ nằng nặc đòi  thi sĩ đọc thơ vì họ rất thích bài Dạ khúc nô en của anh. Và thi sĩ trầm bỗng: Đêm này đêm Chúa giáng sinh / Tình yêu tôi cũng tượng hình đêm nay / Chúa Trời giang rộng cánh tay / Trên cây thánh giá lưu đày khổ đau / Tình yêu tôi cũng nhiệm màu / Đóng đinh tôi ngàn thuở đầu trang thơ / Thiên thần cánh trắng như mơ / Trong tôi bay liệng bây giờ là em / Để trên máng cỏ diêụ huyền / Sinh tôi với những ưu phiền trần gian !  Hải Kỳ tuyên bố:  Sống hết mình tôi không làm kẻ khác / Tôi là tôi như thế tự ngày xưa ! Dám sống hết mình và giữ được chính mình trong thời buổi này thật không dễ dàng gì. Tôi nhận thấy có không ít người đã tự đánh mất mình một cách uổng phí.

         Hải Kỳ là một trong số những người làm thơ hết sức nhanh nhạy. Thơ đến với anh rất tự nhiên. Chỉ nghe một cô gái hỏi về cách gieo vần của thơ lục bát, Hải Kỳ có thơ ngay: Vần lục bát thế nào anh / Câu thơ sao nữa những thanh trắc bằng / Con đường gió bụi xe lăn / Tiếng em lúc bổng , lúc trầm bên tôi... Từ câu chuyện làm thơ lục bát , anh đột ngột lái sang chuyện khác:  Cái vần lục bát về nhau / Gieo cho khéo lúc ban đầu hỡ em! Một hôm, tôi với anh bạn đồng nghiệp cùng ở cùng phòng tranh cãi nhau về người phụ trách thư viện của trường. Cuộc tranh cãi không biết sẽ kéo dài đến lúc nào nếu Hải Kỳ không đứng ra dàn hoà bằng một bài thơ ứng tác với bốn câu kết:  Con người ấy nói thế nào được nhỉ? / Là tốt chăng? Hay là xấu? Là gì? / Cái kết luận vội vàng không thể gói / Cả con người trong bao tải chuyển hàng đi ! Vừa đọc xong bản thống kê của L .H. Q: “Mỗi phút có 32 trẻ em chết vì bệnh tật, đói nghèo ở các nước chậm phát triển”, Hải Kỳ có ngay bài thơ Hai giây đầy mỉa mai, phẫn uất:  Ôi cái hành tinh chật chội thủ đô to / Dày phấn sáp , mỏng áo quần đúng mốt / Bom đạn như non , của tiền như nước / Mỗi trẻ nhỏ chết nghèo trong nháy mắt hai giây ! Không nhạy cảm với cuộc sống, với số phận con người không thể viết được những câu thơ ấy. Và chính vì cái nhạy cảm  nghệ sĩ ấy mà anh luôn có mặc cảm tội lỗi.  Anh cảm thấy mình có lỗi với mẹ, với em, với những người chung quanh. Hải Kỳ nhớ về mẹ trong niềm ân hận xót xa: Đến khi tôi biết vâng lời / Chiến tranh đã khép mắt người buồn đau! Nhìn vết xước trên những ngón tay mềm mại của cô gái bện chổi, anh băn khoăn day dứt:  Tôi đến nhà em / Thấy những ngón tay mềm mà tôi chưa một lần được nắm / Đầy vết xước mây, tre... / Em bện chổi tôi thấy mình bụi bặm / Tôi thấy mình vô tâm... Đó chính là cái tâm của những nghệ sĩ chân chính. Thấy sự hờ hững lãnh cảm của người đời anh thốt lên:  Chao ôi cây nối liền cây / Người sao chẳng biết cầm tay với người!? Ẩn đằng sau những câu thơ tình của Hải Kỳ là những suy ngẫm về thế sự: Rượu nồng thế mà thơ như phấn / Trên bảng đen tôi tập viết qua hàng ;  Tôi xin đăng ký dại khờ / Để khôn ngoan chết bên bờ sông thương...

          

          Hải Kỳ là một người làm thơ tài hoa và có cá tính. Anh cũng là người dám sống chết với thơ, chẳng hề vướng bận chức quyền. Thơ anh điêu luyện, tinh tế, giàu cảm xúc. Hải Kỳ viết không nhiều: Gom hết cả đời làm một quyển / Sách mở ra là thấy biển khơi !  Đó là hai câu thơ anh viết về cụ Nguyễn Tú nhưng cũng nói rất đúng về anh. Thơ Hải Kỳ được nhiều người thuộc và chép chuyền nhau. Diễm phúc ấy không phải nhà thơ nào cũng có được. Đôi khi ngẫm lại sự đời anh giật mình: “ May sao Huế vẫn đa tình / May sao mình vẫn là mình đấy thôi ! Giữ được mình vẫn là mình nghe đơn giản mà gian khổ biết chừng nào! Ở đời chẳng phải ai cũng làm được cái điều tưởng như đơn giản ấy.

                                                                                       Mai Văn Hoan

                                                                                                             (26 Lê Lợi, Huế)

 

 

 


Một mối tình trong những lời thơ ấy

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:39
Một mối tình trong những lời thơ ấy
Bài viết được đăng lúc 10:19:18 AM, 13.10.2010
alt
Phủ Tùng Thiện Vương - Ảnh: lieuquanhue

LƯƠNG AN

Nhớ có một bài thơ “nói láo” nào đó, khi kết thúc đã nói đến một điều không thể được là làm cho “mấy nàng công chúa phải say mê”. Bài thơ nói đúng với những chàng trai bất tài. Còn trường hợp có tài thì sự việc sẽ khác. Một câu chuyện tình trong đời của nhà thơ Nguyễn Hàm Ninh đã chứng minh điều đó.


Nguyễn Hàm Ninh - như chúng ta đều biết - là người thôn Trung Thuần, bây giờ thuộc xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch. Ông tự là Tĩnh Trai, biệt hiệu là Thuận Chi, đỗ giải nguyên năm 1831 (1). Thời gian giữ một chức quan nhỏ tại Huế, qua môi giới của thơ văn, ông kết giao với Tùng Thiện Công Miên Thẩm. Dần dần, tình bạn giữa hai người trở nên mật thiết. Bài thơ đầu tiên Miên Thẩm viết về ông là vào mùa thu năm 1840, lúc cùng nhau ngồi trong vườn uống rượu, ngâm thơ (2).

Năm 1847, Tùng Thiện Công xây dựng vườn Ký Thưởng và Tiêu Viên bên bờ sông Lợi Nông, rồi hai năm sau, đưa mẹ sinh và ba người em gái cùng mẹ về chung ở. Ba người em gái này là Vĩnh Trinh, hiệu Nguyệt Đình, tức Quy Đức công chúa, Trinh Thận, hiệu Mai Am tức Lại Đức công chúa, và Tĩnh Hòa, hiệu Huệ Phố (còn có hiệu nữa là Trường Sơn), tức Thuận Lễ công chúa; cũng như anh ruột, ba chị em đều hay thơ. Là bạn thơ của Miên Thẩm: không lâu, Nguyễn Hàm Ninh cũng trở thành bạn thơ của ba bà chúa trẻ, chưa chồng.

(6/4-84)


---------------
1. Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) có hai tập thơ văn: Tĩnh Trai thi văn tập Được sự ngẫu đề. Ông là một nhà thơ tiến bộ. Ông làm quan đến Án sát tỉnh Khánh Hòa rồi bị cách chức do một sơ suất trong đời sống. Sau đó, được phục chức nhưng sau khi Tự Đức lên ngôi, ông bất bình trước cái chết của Hồng Bảo nên cáo quan về làng.
2. Bài “Thu Viên đồng Thuận Chi đối chước” (vườn thu, cùng Thuận Chi uống rượu.
3. Theo bài thơ “Nguyễn Thuận Chi kiến phong đối ẩm” của Miên Thẩm thì ông cáo quan về năm 1847.
4. Mười hai cây châu lan trồng trước nhà màu tía, chỉ màu vua chúa thương dụng.
5. Bài thơ có một số điển tích rất gợi nhưng cũng rất khó diễn đạt khi dịch thành thơ. Song tiếc rằng một bài giới thiệu không thể cho phép phân tích đầy đủ.
6. Tế tuyết hàn mai: Tuyết mỏng mai non.
7. Về sau, Nguyễn Hàm Ninh có nói: “Ta học thơ với ngài Thương Sơn (tức Miên Thẩm) gần 20 năm, nay đọc thơ của một bà chúa em thì tự biết phận, chẳng những là làm học trò nơi nhà Tùng Vân (tức Miên Thẩm) mà còn phải làm học trò nơi đình Thinh Nguyệt (tức Mai Am) nữa”. Nguyễn Hàm Ninh nói không quá. Mai Am có một số bài thơ không những nổi tiếng lúc bấy giờ mà cho đến nay, vẫn còn có một giá trị nhất định. Chẳng hạn bài Mã Viện hay bài Độc điếu nghĩa dân tử trận văn.
8. Năm 1885, khi vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị, ông chạy theo nhưng không đuổi kịp, bị ốm giữa rừng, vào trong một bộng cây mà chết.
9. Đêm cuối năm, có phải, không phải?
10. Nguyên văn chữ Hán: Tầm phương tự giác tạm xuân vãn/ Duyệt thế vô như bán chẩn nhàn.
11. Một số tài liệu trong bài này rút từ tập “Đời tài hoa” của Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề và “Tùng Thiện Vương” của Ưng Trình.
Trong “Đời tài hoa”, tác giả còn ghi một bài thơ của Huệ phố viết khi sắp đi lấy chồng và gửi cho Nguyễn Hàm Ninh. Theo chúng tôi, ở đây không phải Huệ Phố nói đến mình mà muốn nói về Mai Am. Để các bạn đọc theo dõi và cũng để giới thiệu một bài thơ của Huệ Phố (Huệ Phố thi tập), chúng tôi trích đăng bài thơ đó:

Thực trúc dị mai cưỡng tự khoan
Giác vô ngôn xứ lộ nan can
Thương tâm đối thị đình tiền nguyệt
Bất tác đoàn loan cựu nhật khan

Tạm dịch:

Trồng trúc dời mai vui gượng gạo
Biết không nói được lệ khôn khô
Đau lòng trông mảnh trăng sân dọi
Chẳng thấy tròn như những buổi xưa.


Chúng ta gặp những ý như “dời mai”, chẳng chịu tròn lên (ý của Mai Am: mòn mỏi mặt trăng hơn nữa) có thể làm cơ sở cho nhận định này. Chắc là Huệ Phố đau buồn trước cảnh “ôm cầm thuyền ai” chưa được như ý của chị và gửi cho Nguyễn Hàm Ninh để nói lên lòng nuối tiếc của mình. Chẳng lẽ nhà thơ có tình ý với cả hai chị em và cả hai chị em đều có tình ý với nhà thơ.
Huệ Phố lấy Đặng Huy Cát và là mẹ của Đặng Huy Phổ, một nghĩa sĩ của phong trào Cần Vương. Cuộc tình duyên này không có gì “gượng gạo” về phía bà. Cái ý “nhà cao cửa lớn, vẫn giữ trọn đạo người vợ” (Võ hoành nhàn Nội tắc chi chương) trong câu đối ở mộ bà đã khẳng định điều đó.
alt

Bến sông Lợi Nông trước Phủ Tùng Thiện Vương-nơi lưu dấu nhiều bước chân văn nhân tài tử xưa - Ảnh: lieuquanhue


Vốn là một con người vui tính, hay đùa nghịch song rất đa tình, nên mặc dầu lúc này ông đã cáo quan về nhà gần hai năm (3), thỉnh thoảng mới vào thăm Miên Thẩm, nhất là đã có vợ con rồi, nhưng ông vẫn thấy lòng xao xuyến trước con người tài hoa cùng với tuổi xuân hơ hớ của họ. Chúng ta thông cảm cho ông, một con người sống có phần phóng túng, mê rượu, mê cô đầu, ít khi tự ràng buộc vào khuôn phép. Hơn nữa, xã hội năm thê bảy thiếp lúc bấy giờ có cấm đoán gì điều ấy đâu. Từ mối yêu đương thầm lặng của mình, ông viết một bài thơ thăm dò ý tứ. Bài thơ nhan đề là “Vô đề”:

Thập nhị châu lan nhẫm tử yên
Đào hoa như cẩm thảo như chiên
Sơ liên thanh điệm vi kỳ địa
Tế Tuyết hàn mai vịnh nhứ thiên
Quyên phẩn bôi trung tương tiên tửu
Đồng tâm trướng để tiểu du tiên
Xuân phong nhất khứ vô tiêu tức
Lưu dữ anh kha thoại cựu duyên


Tạm dịch:

Một dãy lan chờ khói tía tươi (4)
Hoa như gấm trải cỏ chăn phơi
Rèm thưa chiếu sạch cờ vây nước
Tuyết mỏng mai đông tứ vịnh trời
Trướng rũ chung lòng thơ thoát tục
Chén vui bỏ giận rượu nâng mời
Gió xuân đi mãi không hơi dạng
Duyên cũ còn anh vẹt nhắc thôi.


Bài thơ nói là không đề nhưng rõ ràng là có đề, chỉ không viết rõ ra mà thôi. Nội dung nhẹ nhàng, ý tứ bóng bẩy vừa kín vừa hở, chữ và điển cố dùng rất đắt (5) ướm lòng các bà chúa như vậy thì tuyệt. Đến Cao Bá Quát, một người nổi tiếng khó tính về thơ, cũng phải khen “Cao bộ Trung Đường, phủ thị chư tử” (bài thơ hay như của thời Trung Đường, vượt hẳn các nhà khác). Miên Thẩm cũng chịu là hay. Ông nhận ra ngay là một bài thơ “ve gái” và “ve” chính các em gái mình. Nhưng là một người độ lượng, ông lấy thơ làm chủ yếu, không quan tâm gì đến điều đó. Lời nhận xét của ông thật là chính xác: “Khả dịch Ngọc Khê, Phi Khanh, Đoan Kỷ đẳng, bất năng cập” (có thể sánh ngang với Ngọc Khê, bọn Phi Khanh, Đoan Kỷ không thể theo kịp). Ngọc Khê, Phi Khanh và Đoan Kỷ là những người làm thơ ghẹo các bà công chúa thời trước.

Nguyễn Hàm Ninh làm xong, gởi cho Huệ Phố. Một người thơ gởi thơ cho một người thơ xem, hơn nữa, nội dung xa xôi, không định vào một người nào cả, có ai bắt gì được. Nếu Huệ Phố muốn hiểu theo tình ý thì hiểu, không thì thôi. Song hình như Huệ Phố không phải là đối tượng chính của nhà thơ, cái đích của ông là Mai Am. Trong bài thơ ít nhiều có ẩn ý đó (6), Huệ Phố xem rồi thế nào chẳng đưa cho bà chị đọc. Thế là đạt ý muốn. Đối với Vĩnh Trinh, người lớn tuổi hơn cả, một người luôn luôn đặt mình vào phép tắc phong kiến, chắc rằng ông không muốn đụng vào. Còn Mai Am, trong con mắt ông, là con người tài hoa, con người đa cảm hơn cả trong ba chị em, vì vậy cũng là con người đáng yêu nhất (7).

Ông biết rất rõ mối tình của mình dầu có được đáp lại bằng một thái độ gì, rốt cuộc cũng chỉ là một mối tình vô vọng. Biết thế nhưng vẫn không thể cưỡng lại lòng mình. Năm 1850, Mai Am tuân theo gia pháp, đi lấy chồng. Nỗi nhớ khiến ông viết bài “Ức mai” (Nhớ mai):

Lâm đường tạc dạ sóc phong xuy
Tiểu các thanh hàn độc tọa trì
Địch lý quan sơn sầu cựu khúc
Thủy biên ly lạc nhận tiền kỳ
Hương nam tuyết bắc vô phương tấn
Nguyệt địa vân giai hữu mộng ti (tư)
Dục bả tân từ viễn tương tặng
Mỹ nhân uyển tại thủy chi my


Tạm dịch:

Đêm qua, đến, gió bắc rì rào
Ngồi một mình lâu, gác lạnh sao
Tiếng sáo cách xa buồn khúc cũ
Bờ sông rào dậu ấy ngày nào
Hương nam tuyết bắc tin không tới
Đất nguyệt thềm mây mộng nhớ nhau
Muốn gửi bài từ xa đến tặng
Thướt tha người ngọc bến hồ xao


Lời thơ không phong kín như bài trước. Có một cái gì chua xót bên trong. Nhớ một cành mai nhưng là nhớ một người. Người ấy, ngoài Mai Am, còn là ai khác nữa.

Bài thơ đến tay Mai Am. Bà đọc, lòng bồi hồi và xin tác giả cho đặt vào tập thơ của mình (Diệu Liên thi tập). Về sau, những lời gì của ông nói về bà, bà cũng chép vào cả. Điều này, trong bao nhiêu lý do, có lẽ có một lý do thầm kín. Mai Am lấy Thân Trọng Di, tuy là con một ông quan to, không đến nỗi văn dốt võ nát và cũng có lòng yêu nước (8) nhưng không có tài năng gì đáng kể, lại không ham thích thơ phú, do đó giữa hai người chưa thật tâm đầu ý hợp. Cuộc tình duyên vì vậy mà ngầm có ít nhiều bất như ý về phía Mai Am. Đọc thơ văn của bà, hơn một lần, chúng ta thấy thấp thoáng có bóng “một người đi qua”. Đây là những câu từ mang bóng dáng con người đó:

… Chào khách tiếng chim ngoài cửa
Thoạt nhớ một người những bữa
Xoắn xuýt giống tơ vò
Cho biết mối tình là ra rứa
Chan chứa chan chứa
Mòn mỏi mặt trăng hơn nữa


Những câu ca của bà cũng chứa đựng một cái gì in sâu vào lòng như vậy:

… Chuông bầu - giục sầu đòi khi
Chạnh vì - chạnh vì tình xưa
Màn loan bướm ong lửng lơ
Ngày dồn thoi én
Thu hết xuân về
Liễu giăng tơ
Nhạn thư vắng đưa
Biết ai có trông còn đợi
Lòng ta thêm ngại
Song giống đa tình
Dễ mấy ai đành…


Có thể nghĩ rằng bà đã hư cấu hoặc đứng vào tâm sự một người nào đó để viết. Nhưng ở đây, chúng ta gặp những hình ảnh chân thực quá, những tình cảm tha thiết quá, không phải là người trong cuộc khó viết nên nỗi.

alt

Khu mộ của Nguyễn Hàm Ninh ở Quảng Lưu, Quảng Trạch, Quảng Bình - Ảnh: internet


Phần nhà thơ họ Nguyễn của chúng ta cũng vậy. Càng đi vào tuổi già, những con sóng ngầm càng vỗ mạnh trong lòng. Ông có một bài ca trù nói lên nỗi nhớ dằng dặc ấy:


Khúc tỳ bà bát ngát giữa giang thiên
Cảnh lão đại luống đau lòng tư mã
Trừ tịch chi dạ
            Thị dạ phi da (9)
Giữa vầng soi thấp thoáng mặt hằng nga
Còn nhớ khúc kỳ đình năm nọ
Gẫm thân thế luống nực cười sự cũ
Thôi thì thôi nhắc lại mà chi?

Trong lòng bạch phát hồng nhan
Trách con tạo điên đảo
                        đảo điên chi lắm bấy
Đôi tay áo rủ bụi đời thay thảy
Biết rằng đâu là ân là oán
                        là nợ là duyên
Vong tình là tiểu thần tiên


Ông tự nhủ: “Đi tìm người tình thì tuổi xuân mình đã hết - đã trải việc đời thì không gì bằng ôm gối ngủ yên” (10) và “vong tình là tiểu thần tiên” nhưng đâu dễ thế. Chẳng qua ông tự dối mình. Người mà ông không thể nào dối được, trước hết là ông anh Miên Thẩm. Miên Thẩm là người đã nhìn thấy tận trái tim của ông. Một lần vào Huế, đến thăm người bạn thơ thân thiết, ông không ở lại chơi lâu như trước. Miên Thẩm ghi lại buổi gặp mặt ngắn ngủi ấy:

Thập niên kinh để biệt
Dẫn tích trí thư bưu
Hữu tửu quân kiêm đáo
Vô quan khí ích tù
Sóc phong hào ngạn thụ
Lạc nhật động hồ lâu
Tảo văn sinh xuân thủy
Tâm tri bất khẳng lưu


Tạm dịch:

Mười năm cách biệt kinh đô
Bao nhiêu chuyện cũ qua thư đã tường
Anh vào, vừa có rượu ngon
Không ai quan, chí khí càng hăng sao
Bờ cây gió bắc rì rào
Nắng chiều rung bóng lầu cao trên hồ
Dòng xuân rồi sẽ lên lo
Biết không chịu ở chơi lâu đâu mà


Miên Thẩm đã nhắc lại “ngọn gió bắc” thổi trên bờ cây, bóng “lầu trên hồ” nơi Mai Am ở, “dòng nước” có bóng người “thướt tha”, những cảnh vật từ bài thơ “nhớ mai” mà ông biết là đang vào vò nát tâm can bạn và cho lòng mình biết bạn không muốn ở lại chơi lâu.

Nguyễn Hàm Ninh vội từ giã đất Huế, không phải chỉ để quên mà còn trốn những gì cứ làm đau nhói tâm can. Nhưng trốn làm sao được? Cảnh lão đại luống đau lòng tư mã, ông muốn những trái tim ông đâu có chịu khép lại.

Một mối tình man mác như hơi gió nhưng không thể nào tan. Biết đâu họ đã mang xuống tuyền đài. Điều chắc chắn hơn cả là nó cứ in dấu lên thơ văn của họ và còn lại mãi mãi như vang bóng Huế một thời (11).

L.A.
 
Nguồn : Taph chí Sông Hương




Bài diễn văn trước

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 22:23

Bài diễn văn trước

lưỡng viện Quốc hội

của Tổng thống Obama

Tổng thống Barack Obama tuyên bố Hoa Kỳ sẽ trỗi dậy sau giai đoạn kinh tế bất định và sẽ trở nên vững mạnh hơn trước. Trong bài diễn văn đọc trước lưỡng viện Quốc hội tối thứ ba 24/2/2009, Tổng thống Obama giải thích các chính sách kinh tế của ông. Sau đây là phần đầu của bài diễn văn.

 
Tổng thống Obama đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội

Thưa Bà Chủ tịch Hạ viện, thưa Ông Phó Tổng thống, thưa Quí vị đại biểu Quốc hội, và Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ.

Tôi tới đây tối nay không chỉ để ngỏ lời với các quí Ông và quí Bà khả kính ở hội trường vĩ đại này, nhưng cũng để trình bày một cách thẳng thắn và trực tiếp với những người nam cũng như nữ đã cử chúng ta đến nơi đây.

Tôi biết rằng đối với nhiều người Mỹ đang ngồi trước màn ảnh truyền hình ngay lúc này, tình hình kinh tế của chúng ta là một mối lo vượt lên trên tất cả các mối lo khác. Và đó là điều hợp lý. Nếu như bản thân quý vị chưa bị tác động trực tiếp bởi cuộc suy thoái này, có lẽ quý vị cũng có quen biết một ai đó đã bị tác động – một người bạn; một người láng giềng; hay một người trong gia đình bạn. Quý vị chẳng cần phải nghe thêm một bảng thống kê khác mới biết rằng nền kinh tế của chúng ta đang bị khủng hoảng, bởi vì quý vị đang sống với nó hằng ngày. Đó là mối khắc khoải quý vị cảm thấy mỗi khi thức giấc và nguyên do của nó làm quý vị nhiều đêm không ngủ được. Đó là công việc bạn vẫn nghĩ sẽ làm cho đến lúc nghỉ hưu nhưng bây giờ đã mất; là doanh nghiệp trên đó bạn xây đắp những ước mơ mà bây giờ như chỉ mành treo chuông; là lá thư được chấp nhận vào trường đại học mà con bạn đành phải nhét lại vào phong bì. Tác động của cuộc suy thoái này là điều có thật và hiện diện ở mọi nơi.

Thế nhưng mặc dù nền kinh tế của chúng ta suy yếu và niềm tin của chúng ta lung lay, và mặc dù chúng ta sống qua một thời kỳ đầy khó khăn và bất trắc, đêm nay tôi muốn rằng mỗi người Mỹ nên biết rõ điều này.

Chúng ta sẽ xây dựng lại, chúng ta sẽ phục hồi lại, và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ trỗi dậy mạnh mẽ hơn trước.

Sức nặng của cuộc khủng hoảng này sẽ không quyết định vận mạng của quốc gia này. Những câu trả lời cho các vấn nạn của chúng ta không nằm ngoài tầm với của chúng ta. Những câu trả lời đó nằm trong các phòng thí nghiệm và các trường đại học của chúng ta; trên những cánh đồng và trong các cơ xưởng của chúng ta; trong trí tưởng tượng của những nhà doanh nghiệp và trong niềm tự hào của những người lao động cần cù nhất trên Trái đất. Chúng ta vẫn có thừa những phẩm chất đã làm Hoa Kỳ trở nên một sức mạnh to lớn nhất của tiến bộ và thịnh vượng trong lịch sử nhân loại. Điều cần thiết hiện nay cho đất nước này là phải cùng nhau ra sức dũng cảm đối mặt với những thách thức và một lần nữa đảm nhận trách nhiệm về tương lai chúng ta.

Giờ đây, nếu chúng ta thành thực với chính mình, chúng ta phải công nhận rằng trong thời gian quá lâu, chúng ta đã không luôn luôn đáp ứng những trách nhiệm đó – với tư cách là một chính phủ hay một dân tộc. Tôi nói điều này không phải để chê trách hay nhìn lại phía sau, mà bởi vì chỉ bằng cách tìm hiểu vì sao chúng ta đã lâm vào nông nỗi này thì chúng ta mới có thể thoát ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay.

Sự thật là nền kinh tế của chúng ta không phải rơi vào suy thoái trong một sớm một chiều. Cũng không phải tất cả các vấn nạn của chúng ta đã nảy sinh khi thị trường nhà đất suy sụp hoặc khi thị trường chứng khoán hạ giảm. Từ bao nhiêu thập niên chúng ta đã biết rằng sự sống còn của chúng ta tùy thuộc vào việc tìm ra những nguồn năng lượng mới. Vậy mà ngày nay chúng ta đang nhập khẩu nhiều dầu hơn bao giờ hết. Mỗi năm, phí tổn chăm sóc y tế gậm nhấm ngày càng nhiều quĩ tiết kiệm của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn trì hoãn việc cải cách. Con em chúng ta sẽ đua tranh tìm kiếm việc làm trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu mà quá nhiều trường học của chúng ta không chuẩn bị cho chúng. Và bất chấp tất cả những thách thức không được giải quyết đó, chúng ta vẫn tìm cách chi tiêu nhiều hơn bao giờ hết, chồng chất nợ nần nhiều hơn bao giờ hết, trên cương vị cá nhân cũng như thông qua chính phủ của chúng ta.

Nói một cách khác, chúng ta đã trải qua một thời đại mà những lợi lộc ngắn hạn quá nhiều khi được đánh giá cao hơn sự thịnh vượng lâu dài; một thời đại mà chúng ta đã không nhìn xa hơn được kỳ lương sắp tới, quí sắp tới, hoặc kỳ tuyển cử sắp tới. Một sự thặng dư trở nên một cái cớ để chuyển giao của cải cho người giàu có, thay vì là một cơ hội để đầu tư cho tương lai. Luật lệ bị phá vỡ nhằm thu được lợi nhuận nhanh chóng bất kể cái hại gây ra cho thị trường lành mạnh. Người ta mua những ngôi nhà họ biết họ không đủ tiền để trả của các ngân hàng và của những kẻ cho vay cứ thông qua những món nợ xấu một cách bất kể người mua có đủ điều kiện hay không. Và trong suốt thời gian đó, những cuộc tranh luận quan trọng và những quyết định khó khăn luôn luôn bị trì hoãn ngày này sang ngày khác.

Vâng, cái ngày phán xét đó đã tới, và cũng đã đến lúc chúng ta phải nhận lãnh trách nhiệm về tương lai của chúng ta.

Đây chính là lúc chúng ta cần hành động dũng cảm và khôn ngoan, không những chỉ để phục hồi nền kinh tế mà còn để xây dựng nền móng mới cho một sự thịnh vượng lâu dài. Đây chính là lúc phải khởi động việc tạo ra công ăn việc làm, khởi sự lại hoạt động cho vay tiền, và đầu tư trong những lãnh vực như năng lượng, chăm sóc y tế, và giáo dục, là những lãnh vực sẽ giúp cho nền kinh tế của chúng ta tăng trưởng, ngay cả trong lúc chúng ta còn phải có những chọn lựa khó khăn để giảm bớt sự thâm hụt. Đó là những điều mà nghị trình kinh tế của tôi soạn thảo để thực hiện, và cũng là điều tôi muốn nói với quí vị đêm nay.

Đó là một nghị trình khởi sự với công ăn việc làm.

Ngay khi tôi nhậm chức, tôi đã đã yêu cầu Quốc hội này gửi cho tôi một kế hoạch phục hồi vào ngày Lễ Tổng thống, một kế hoạch có thể đem mọi người trở lại với công việc của họ và bỏ tiền vào túi họ. Như thế không phải bởi vì tôi tin vào một chính phủ có quyền hạn lớn hơn – không, tôi không nghĩ như vậy. Cũng không phải tôi không nghĩ tới món nợ khổng lồ mà chúng ta đã thừa hưởng – tôi có nghĩ tới. Tôi yêu cầu phải có hành động vì nếu không làm vậy thì những công ăn việc làm sẽ ra đi nhiều hơn và đem tới nhiều gian truân hơn nữa. Sự thực là nếu không có hành động ngay thì sự thâm lạm của chúng ta trong trường kỳ sẽ trở nên tệ hại hơn vì điều đó chắc chắn sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng một cách yếu ớt trong nhiều năm nữa. Chính vì vậy mà tôi đã thúc đẩy phải hành động nhanh. Và đêm nay, tôi biết ơn sự đáp ứng của Quốc Hội này, và vui mừng tuyên bố Dự Án Phục Hồi và Tái Đầu Tư Hoa Kỳ nay đã trở thành Luật.

Trong hai năm tới đây, kế hoạch này sẽ cứu vãn hoặc tạo ra 3 triệu rưỡi công ăn việc làm. Hơn 90% những việc làm này nằm trong khu vực tư nhân, như công việc tái thiết đường sá cầu cống; xây dựng các tuốc-bin gió và các tấm pin điện mặt trời; lắp đặt các băng thông rộng và mở rộng các phương tiện chuyên chở đại chúng.

Nhờ kế hoạch này, bây giờ đã có những giáo viên có thể giữ được công việc giáo dục con em chúng ta. Những nhà chuyên môn chăm sóc sức khỏe có thể tiếp tục săn sóc người bệnh của chúng ta. Đêm nay, 57 cảnh sát viên vẫn tiếp tục thi hành nhiệm vụ trên đường phố Minneapolis, nhờ kế hoạch này đã ngăn chặn được những vụ sa thải mà cơ quan của họ dự tính thực hiện.

Nhờ kế hoạch này, 95% gia đình lao động Mỹ sẽ nhận được một phần giảm thuế, quý vị sẽ nhìn thấy phần giảm thuế đó trong ngân phiếu trả lương của bạn bắt đầu vào ngày 1 tháng Tư.

Cũng nhờ kế hoạch này, những gia đình phải chật vật để trả học phí của con em sẽ nhận được một khoản giảm thuế 2,500 đô la cho toàn bộ 4 năm đại học đầu tiên. Và những người Mỹ đã bị mất việc làm trong cơn suy thoái này sẽ có thể nhận thêm trợ cấp thất nghiệp và tiếp tục được hưởng sự chăm sóc sức khỏe cho qua cơn sóng gió này.

Tôi biết có một số người trong hội trường này và một số người đang xem TV ở nhà vẫn còn hoài nghi về hiệu quả của kế hoạch này. Tôi hiểu sự hoài nghi đó. Tại Washington đây, mọi người chúng ta đều đã thấy những hảo ý có thể biến thành những lời hứa suông và sự tiêu pha vô ích một cách nhanh chóng như thế nào. Và một kế hoạch với tầm cỡ này có kèm theo một trách nhiệm cực kỳ to lớn phải thực hiện đúng.

Chính vì vậy tôi đã yêu cầu Phó Tổng thống Biden lãnh đạo một nỗ lực giám sát gay gắt và chưa từng thấy, bởi vì không ai có thể làm ăn tắc trách với ông ấy được. Tôi đã nói với mỗi thành viên trong Nội các của tôi cũng như các thị trưởng và thống đốc trên toàn quốc là họ sẽ chịu trách nhiệm trước tôi cũng như trước nhân dân Mỹ về mỗi đôla mà họ chi tiêu. Tôi đã bổ nhiệm một vị Tổng Thanh tra kinh nghiệm và năng nỗ để có thể phát giác mọi trường hợp lãng phí và gian lận. Và chúng tôi cũng tạo ra một trang mạng mới gọi là recovery.gov, hầu mỗi người Mỹ đều có thể thấy tiền của họ được chi tiêu như thế nào và tiêu vào đâu.

Như vậy kế hoạch phục hồi chúng ta đã thông qua là bước đầu tiên để đưa nền kinh tế của chúng ta trở lại đúng hướng. Nhưng đó chỉ là bước đầu tiên. Bởi vì cho dù chúng ta có thể quản lý kế hoạch này một cách toàn hảo đi nữa, cũng sẽ không thực hiện được sự phục hồi thực sự trừ phi chúng ta giải quyết được cuộc khủng hoảng tín dụng đã làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống tài chánh của chúng ta.

Đêm nay, tôi muốn nói một cách thẳng thắn, không úp mở về vấn đề này, bởi vì mọi người Mỹ nên hiểu rằng vấn đề này trực tiếp tác động đến quý vị và sự an vui của gia đình quý vị. Quý vị cũng nên biết rằng số tiền mà quý vị ký thác trong các ngân hàng trên khắp nước Mỹ là an toàn; rằng việc bảo hiểm của quý vị là chắc chắn; và quý vị có thể tin cậy vào sự tiếp tục hoạt động của hệ thống tài chính của chúng ta. Nhưng đó không phải là điều đáng lo.

Điều đáng lo là ở chỗ nếu chúng ta không khởi sự lại việc cho vay trong nước này, sự hồi phục của chúng ta sẽ bị bóp nghẹt trước khi nó bắt đầu.

Quí vị biết đó, lưu thông tín dụng chính là mạch máu của nền kinh tế của chúng ta. Khả năng vay được tiền chính là cách ta tài trợ cho việc mua bán mọi thứ, từ căn nhà, chiếc xe cho tới nền giáo dục đại học; đó là cách các cửa tiệm mua được hàng hóa, các nông trại mua được thiết bị, và các doanh nghiệp có thể trả lương cho công nhân.

Nhưng, tín dụng đã ngưng lưu thông đúng cách. Quá nhiều khoản cho vay xấu từ cuộc khủng hoảng nhà đất đã đi vào sổ sách kế toán của quá nhiều ngân hàng. Với quá nhiều nợ nần và quá ít sự tín nhiệm, những ngân này giờ đây đâm ra sợ hãi, không dám cho các gia đình, các doanh nghiệp, và các ngân hàng khác vay thêm. Khi không có ai cho vay tiền thì các gia đình không còn mua nhà hoặc mua xe được nữa. Thế là các doanh nghiệp bị buộc phải sa thải nhân công. Nền kinh tế của chúng ta còn bị tác hại nhiều hơn, và tín dụng cũng cạn kiệt hơn nữa.

Chính vì lý do đó mà Chính quyền này đã phải hành động một cách nhanh chóng và mạnh mẽ để phá vỡ cái vòng hủy diệt đó, khôi phục lại lòng tin, và khởi sự lại hoạt động cho vay.

Chúng ta sẽ làm như vậy theo nhiều cách. Trước tiên, chúng ta đang tạo ra một quĩ cho vay mới thể hiện cho nỗ lực to lớn nhất từ trước đến nay để giúp cung cấp tiền vay mua xe, vay tiền đóng học phí đại học, cùng những khoản tiền vay dành cho doanh nghiệp nhỏ, cho người tiêu dùng và các nhà kinh doanh, tức là những thành phần giúp cho nền kinh tế hoạt động.

Điều thứ hai, chúng ta đã phát động một chương trình gia cư nhằm giúp các gia đình có tinh thần trách nhiệm đang đối mặt với nguy cơ bị xiết nhà giảm bớt khoản trả góp hàng tháng và tái tài trợ các khoản thế chấp của họ. Kế hoạch này sẽ không giúp những kẻ đầu cơ hoặc một người hàng xóm nào đó đã mua một ngôi nhà mà họ chẳng bao giờ hy vọng có đủ tiền để trả, nhưng nó sẽ giúp hàng triệu người Mỹ đang vất vả vật lộn vì giá trị căn nhà của họ bị sụt giảm – đó là những người Mỹ mà giờ đây có thể lợi dụng mức lãi suất thấp hơn trước do kế hoạch này đem lại. Sự thật là, một gia đình trung bình hiện nay muốn tái tài trợ có thể tiết kiệm được gần 2,000 đô la mỗi năm về tiền thế chấp của họ.

Thứ ba, chúng ta sẽ hành động với toàn sức mạnh của chính phủ liên bang để đảm bảo rằng các ngân hàng chính mà người Mỹ phải trông cậy vào có đủ niềm tin và đủ tiền để cho vay ngay cả trong những thời kỳ khó khăn hơn nữa. Và khi chúng ta biết được rằng một ngân hàng lớn có những vấn đề nghiêm trọng, chúng ta sẽ buộc những kẻ có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm, bắt buộc phải thực hiện những sự điều chỉnh cần thiết, cung cấp sự hỗ trợ cần thiết để chỉnh đốn bảng quyết toán, và đảm bảo tính liên tục của một định chế vững mạnh, có khả năng tồn tại để phục vụ người dân và nền kinh tế của chúng ta.

Tôi hiểu rằng bất cứ lúc nào các cơ sở tài chính ở Wall Street đều có thể cảm thấy dễ chịu hơn với một chính sách nhằm cung cấp cho các ngân hàng những khoản tiền giải cứu mà không có những điều kiện ràng buộc, không bắt ai phải chịu trách nhiệm về những quyết định thiếu thận trọng của họ. Nhưng một đường lối như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề. Và mục tiêu của chúng ta là tiến nhanh đến ngày mà chúng ta có thể cho người Mỹ và doanh nghiệp Mỹ vay mượn trở lại, và chấm dứt vĩnh viễn cuộc khủng hoảng này.

Tôi có ý định buộc các ngân hàng này phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự giúp đỡ mà họ được nhận, và lần này, họ sẽ chứng minh rõ ràng bằng cách nào đồng tiền của người thọ thuế sẽ mang lại kết quả là người thọ thuế sẽ được vay mượn nhiều hơn. Lần này, các giám đốc điều hành công ty sẽ không thể sử dụng tiền của người thọ thuế để tự tăng lương cho mình hay mua sắm những tấm màn đắt giá  hoặc biến đi trên một chiếc máy bay phản lực riêng. Thời kỳ đó nay đã qua rồi.

Tuy nhiên, kế hoạch này sẽ đòi hỏi những nguồn lực đáng kể từ phía Chính phủ liên bang, và, vâng, có lẽ còn nhiều hơn số nguồn lực mà chúng ta đã dành riêng cho mục đích này. Nhưng mặc dù cái giá của hành động sẽ rất cao, tôi có thể bảo đảm với quí vị là cái giá của việc không hành động sẽ còn cao hơn rất nhiều, vì nó có thể đưa đến hậu quả là một nền kinh tế èo uột kéo dài không phải trong vài tháng hay trong vài năm, mà có thể cả một thập niên. Điều đó sẽ tệ hại hơn cho tình trạng thâm hụt của chúng ta, tệ hại hơn cho các hoạt động kinh doanh, tệ hại hơn cho quí vị, và tệ hại hơn cho thế hệ kế tiếp. Và tôi sẽ không để cho điều đó xảy ra.

Tôi hiểu rằng khi Chính quyền trước yêu cầu Quốc hội trợ giúp cho các ngân hàng đang gặp khó khăn, các đại biểu của cả hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa đều giận dữ về cách quản lý sai lầm và những hậu quả của nó. Người thọ thuế Hoa Kỳ cũng giận dữ. Tôi cũng vậy.

Cho nên bây giờ tôi rất hiểu hiện nay việc đi giúp đỡ cho các ngân hàng là một việc ít được lòng dân chúng đến mức nào, nhất là khi mọi người đều cực khổ một phần vì những quyết định sai lầm của các ngân hàng đó. Tôi hứa với các bạn – tôi hiểu điều đó.

Nhưng tôi cũng biết trong một thời kỳ khủng hoảng, chúng ta không thể dùng sự giận dữ để quản lý, hoặc nhường bước cho đường lối chính trị nhất thời. Công việc của tôi – công việc của chúng ta -là phải giải quyết vấn đề. Công việc của chúng ta là quản lý với tinh thần trách nhiệm. Tôi sẽ không tiêu một xu nào cho mục đích tưởng thưởng một giới chức điều hành các cơ sở tài chính ở Wall Street nào, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì có thể làm được để giúp doanh nghiệp nhỏ nào không thể trả lương cho nhân viên của họ, hay gia đình nào đã dành dụm mà vẫn không kiếm ra được tiền thế chấp. (Còn tiếp)

VOA

Xí. Đừng có khè tui à nghen! Thời sợ hải đã qua rồi.

(Tiếp theo) Vấn đề là như vậy. Đây không phải là vấn đề giúp các ngân hàng, mà là giúp đỡ người dân. Bởi vì khi đã có tín dụng, thì sau cùng một gia đình trẻ tuổi có thể mua một căn nhà mới. Và rồi một công ty sẽ thuê công nhân để xây dựng căn nhà đó. Và rồi các công nhân này sẽ có tiền tiêu, và nếu họ có thể mượn được tiền, có lẽ sau cùng họ sẽ mua một chiếc xe, hay là mở một doanh nghiệp riêng của họ. Các nhà đầu tư sẽ trở lại thị trường, và các gia đình người Mỹ một lần nữa lại thấy quĩ hưu bổng của mình được ổn định. Niềm tin sẽ trở lại, chậm rãi nhưng chắc chắn, và nền kinh tế của chúng ta sẽ hồi phục.

Vì vậy, tôi yêu cầu Quốc hội hãy cùng tôi làm tất cả mọi điều cần thiết. Bởi vì chúng ta không thể phó mặc đất nước chúng ta cho một cuộc suy thoái triền miên. Và để đảm bảo rằng một cuộc suy thoái nghiêm trọng như thế này sẽ không bao giờ tái diễn, tôi thỉnh cầu Quốc hội hãy hành động mau lẹ trong việc xây dựng những luật lệ mà cuối cùng sẽ giúp cải cách hệ thống điều tiết đã lỗi thời của chúng ta. Đã đến lúc phải ban hành những quy tắc hoạt động mới nghiêm khắc, hợp lý để thị trường tài chánh của chúng ta tưởng thưởng cho những nỗ lực và sáng kiến, và trừng phạt những lối làm ăn đi ngang về tắt và thói lạm dụng.

Kế hoạch phục hồi và kế hoạch ổn định tài chánh là những bước cấp thời chúng ta đang áp dụng nhằm phục hồi nền kinh tế của chúng ta trong thời gian trước mắt. Nhưng phương cách duy nhất để phục hồi toàn diện sức mạnh kinh tế Hoa Kỳ là thực hiện những công cuộc đầu tư để tạo ra công ăn việc làm mới, các công nghiệp mới, và một khả năng mới để tranh đua cùng thế giới. Cách duy nhất để cho thế kỷ này sẽ trở thành một thế kỷ Mỹ khác là sau cùng chúng ta chịu trực diện với cái giá phải trả cho sự phụ thuộc của chúng ta vào dầu hỏa và với phí tổn cao của công tác chăm sóc y tế; trực diện với vấn đề những trường học không chuẩn bị cho con em chúng ta để chúng gánh vác số nợ nần cao như núi mà chúng sẽ thừa hưởng. Đó là trách nhiệm của chúng ta.

Trong vài ngày sắp tới, tôi sẽ đệ nạp một ngân sách cho Quốc hội. Rất thường khi chúng ta chỉ xem những tài liệu này đơn giản chỉ là những con số trên một trang giấy hoặc một danh mục những chương trình lặt vặt. Tôi nhìn tài liệu này một cách khác. Tôi nhìn nó như một viễn tượng của Hoa Kỳ, một kế hoạch cho tương lai chúng ta.

Ngân sách của tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề. Nó phản ánh thực tế phũ phàng của điều chúng ta đã thừa hưởng – đó là tình trạng thâm hụt 1,000 tỉ đô-la, một cuộc khủng hoảng tài chính, và một cuộc suy thoái hao tiền tốn của.

Với những thực tế đó, tất cả mọi người trong phòng hội này, cho dù thuộc Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa, cũng sẽ phải hy sinh một số dự án ưu tiên vì không có đủ tiền, cho dù đó là những dự án xứng đáng. Cả tôi cũng phải làm như thế.

Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể bỏ qua những thách thức có tính cách dài hạn. Tôi bác bỏ quan điểm cho rằng những vấn đề của chúng ta đơn giản sẽ tự giải quyết lấy; và rằng chính phủ không đóng vai trò nào trong việc đặt nền móng cho sự thịnh vượng chung của chúng ta.

Bởi vì lịch sử đã không diễn ra như thế. Lịch sử nhắc nhở chúng ta rằng mỗi khi kinh tế có biến động đột ngột và thay đổi, quốc gia này đã đáp ứng bằng những hành động dũng cảm và những tư tưởng lớn. Giữa khi xảy ra nội chiến, chúng ta đã đặt một tuyến đường sắt từ duyên hải miền đông sang duyên hải miền tây, và điều đó đã giúp thúc đẩy thương mại và công nghiệp. Giữa cơn rối loạn của cuộc cách mạng công nghiệp, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống trường trung học công lập để chuẩn bị cho công dân của chúng ta bước vào một kỷ nguyên mới. Sau khi chiến tranh vàsuy thoái chấm dứt, đạo luật GI Bill đã đưa một thế hệ vào trường đại học và tạo ra một tầng lớp trung lưu lớn nhất trong lịch sử. Và một cuộc đấu tranh cho tự do đã đưa đến một đất nước với những xa lộ, một người Mỹ đặt chân lên mặt trăng, và một cuộc bùng phát của nền công nghệ hiện vẫn còn uốn nắn vóc dáng của thế giới chúng ta.

Trong mỗi trường hợp, chính phủ đều không thay thế được xí nghiệp tư nhân; nhưng chính phủ đã thay đổi doanh nghiệp tư nhân một cách đáng kể. Chính phủ đã tạo điều kiện cho hàng ngàn doanh nhân và xí nghiệp mới để giúp họ thích ứng và phát đạt.

Chúng ta là một đất nước đã nhìn thấy sự hứa hẹn trong nỗi hiểm nghèo, và đã dành được cơ hội trong cơn thử thách. Giờ đây một lần nữa chúng ta phải là một đất nước như thế. Chính vì vậy, ngay cả khi cắt giảm những chương trình mà chúng ta không cần, ngân sách mà tôi đệ nạp sẽ đầu tư vào 3 lãnh vực tuyệt đối cần thiết cho tương lai kinh tế của chúng ta: đó là năng lượng, chăm sóc y tế, và giáo dục.

Hãy khởi sự với năng lượng.

 
Tổng thống Obama nói 3 lãnh vực tuyệt đối cần thiết cho tương lai kinh tế của Hoa Kỳ là năng lượng, chăm sóc y tế, và giáo dục

Chúng ta biết rằng nước nào khai thác được sức mạnh năng lượng sạch và có thể tái tạo sẽ dẫn đầu trong thế kỷ 21. Vậy mà, chính Trung Quốc đã phát động nỗ lực to lớn nhất trong lịch sử để làm cho nền kinh tế của họ có hiệu suất năng lượng cao. Chúng ta sáng chế ra công nghệ năng lượng mặt trời, nhưng chúng ta đã tụt hậu so với các nước như Đức và Nhật Bản trong việc sản xuất loại năng lượng này. Chúng ta làm ra những xe ô-tô chạy bằng năng lượng kết hợp điện và xăng, nhưng chúng sử dụng những bình điện được chế tạo tại Nam Triều Tiên

Tôi không chấp nhận một tương lai trong đó những công ăn việc làm và ngành công nghiệp của ngày mai bắt nguồn bên ngoài biên giới của chúng ta – tôi biết rằng quý vị cũng vậy. Đã đến lúc Hoa Kỳ phải lãnh đạo trở lại.

Nhờ kế hoạch phục hồi của chúng ta, chúng ta sẽ tăng gấp đôi nguồn năng lượng có thể tái tạo trong vòng 3 năm tới. Chúng ta cũng thực hiện một khoản đầu tư lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ để tài trợ cho công tác nghiên cứu cơ bản, một cuộc đầu tư sẽ không chỉ giúp thúc đẩy những phát minh phá mới về năng lượng, mà còn giúp thúc đẩy những bước đột phá trong y học, khoa học, và công nghệ.

Không bao lâu nữa chúng ta sẽ đặt hàng ngàn dặm đường dây điện có khả năng chuyển tải năng lượng mới tới các thành phố và thị xã trên khắp đất nước này. Và chúng ta sẽ đem công ăn việc làm đến cho người Mỹ để họ xây dựng nhà cửa và cao ốc của chúng có hiệu quả hơn về năng lượng nhằm tiết kiệm hàng tỉ đô la trong việc mua năng lượng của chúng ta.

Nhưng để thực sự cải tạo nền kinh tế, bảo vệ an ninh, và giúp cho hành tinh của chúng ta tránh khỏi sự tàn phá của nạn khí hậu biến đổi, chung cục chúng ta cần làm cho loại năng lượng sạch, có thể tái tạo được, trở thành lại năng lượng mang lại lợi nhuận. Vậy tôi yêu cầu Quốc hội hãy gửi tới tôi những dự luật nhằm xác định mức trần – căn cứ vào thị trường -cho nạn ô nhiễm do khí cácbon gây ra, và thúc đẩy việc sản xuất thêm nhiều năng lượng có thể tái tạo tại Hoa Kỳ. Và để hậu thuẫn cho sáng kiến đó, chúng ta sẽ đầu tư 15 tỉ đôla một năm để phát triển những công nghệ như là năng lượng gió và năng lượng mặt trời; các loại năng lượng sinh học cao cấp, than sạch, và xe ô-tô và xe tải có hiệu suất năng lượng cao hơn được sản xuất ngay tại nước Mỹ.

Về phần công nghiệp ô-tô, mọi người đều công nhận rằng những quyết định tồi tệ trong nhiều năm qua và sự suy thoái toàn cầu đã đẩy những công ty sản xuất ô-tô của chúng ta đến bờ vực thẳm. Chúng ta không nên và sẽ không bảo vệ những công ty này về những hoạt động yếu kém của họ. Tuy nhiên chúng ta cam kết theo đuổi mục tiêu cấu trúc lại, tạo lại hình ảnh của ngành ô-tô để ngành này có thể cạnh tranh và giành thắng lợi. Hàng triệu việc làm tùy thuộc vào công việc này. Và tôi tin rằng quốc gia đã sáng chế ra ô-tô không thể bỏ rơi ngành này.

Không có việc nào được thực hiện mà không có cái giá của nó và không có gì là dễ dàng cả. Nhưng đây là nước Mỹ. Chúng ta không làm những điều dễ dàng. Chúng ta làm những điều cần thiết để đưa đất nước này tiến lên.

Cũng vì lý do đó, chúng ta cũng phải đề cập đến chi phí rất cao về công tác chăm sóc sức khỏe.

Đây là một loại chi phí đã khiến cho nước Mỹ cứ 30 giây là có một vụ phá sản. Đến cuối năm nay nó có thể làm cho khoảng 1 triệu rưỡi người Mỹ bị mất nhà cửa. Trong vòng 8 năm qua, chi phí bảo hiểm tăng nhanh hơn tiền lương 4 lần. Và trong mỗi năm đó lại có thêm một triệu người Mỹ bị mất bảo hiểm sức khỏe. Đó là một trong những lý do chính yếu khiến những doanh nghiệp nhỏ phải đóng cửa và các công ty đưa việc làm ra nước ngoài. Và đó cũng chính là một trong những khoản gia tăng lớn nhất và nhanh nhất trong ngân sách của chúng ta.

Trước những sự kiện này, chúng ta không thể nào chần chờ trong việc thực hiện cải cách về chăm sóc sức khỏe. Trong 30 ngày qua, chúng ta đã làm được nhiều việc hơn so với trong suốt một thập niên qua để đưa sự nghiệp cải cách công tác bảo hiểm sức khỏe tiến lên. Trong vòng vài ngày sau khi nhóm họp, quốc hội khoá này đã thông qua một dự luật cung cấp và bảo vệ bảo hiểm sức khỏe cho 11 triệu trẻ em Mỹ có cha mẹ làm việc toàn thời gian. Kế hoạch phục hồi của chúng ta sẽ đầu tư vào việc lưu trữ những dữ kiện về sức khỏe bằng phương tiện điện tử và vào những công nghệ mới để giúp giảm bớt những sai lầm, giảm bớt chi phí, bảo đảm tính cách riêng tư và cứu được nhiều sinh mạng. Chương trình này cũng sẽ phát động một nỗ lực mới để chiến thắng một chứng bệnh đã ảnh hưởng đến đời sống của hầu như mọi người Mỹ bằng cách tìm ra phương cách chữa lành bệnh ung thư trong thời đại chúng ta. Và chương trình này đầu tư ngân khoản lớn nhất từ trước tới nay cho công tác phòng bệnh bởi vì đây là một trong những phương cách tốt nhất để giúp cho nhân dân chúng ta có đầy đủ sức khỏe và kiểm soát được chi phí.

Ngân sách này được xây dựng dựa trên những cải cách vừa kể. Điều này bao gồm một sự cam kết có tính cách lịch sử về cải cách bảo hiểm sức khỏe toàn diện – đây ví như là một khoản tiền đặt cọc để thực hiện nguyên tắc là chúng ta cần phải có sự chăm sóc sức khỏe có chất lượng với phí tổn phải chăng cho mỗi người dân Mỹ. Đây là một sự cam kết được đài thọ một phần bằng tính hữu hiệu trong hệ thống của chúng ta mà lẽ ra đã phải được thực hiện từ lâu. Và đây là một bước chúng ta cần phải thực hiện nếu chúng ta hy vọng giảm bớt sự thâm hụt ngân sách trong những năm tới.

Vâng, sẽ có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau về việc phải cải cách như thế nào, và đó là lý do tại sao tôi tập hợp các doanh nghiệp và công nhân, các bác sĩ và công ty bảo hiểm, những người thuộc đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa để bắt đầu làm việc về vấn đề này trong tuần tới.

Tôi không có ảo tưởng đây sẽ là một tiến trình dễ dàng. Đây là một việc khó khăn. Nhưng tôi cũng biết là gần một thế kỷ sau khi Tổng Thống Teddy Roosevelt lần đầu tiên kêu gọi cải cách, chi phí về chăm sóc sức khỏe đã đè nặng lên nền kinh tế của chúng ta cũng như trên lương tâm của đất nước chúng ta đủ lâu rồi. Do đó đừng ai nghi ngờ gì nữa việc cải cách công tác chăm sóc sức khỏe không thể chờ đợi thêm nữa, không được chờ đợi thêm nữa, và nó sẽ không chờ thêm một năm nữa.

Thách thức thứ ba mà chúng ta phải nêu lên ở đây là nhu cầu cấp bách của việc mở rộng tiến cơ hội giáo dục trên nước Mỹ.

Trong một nền kinh tế toàn cầu mà kỹ năng đáng giá nhất mà quý vị có thể đem ra rao bán là kiến thức của quý vị, thì một căn bản giáo dục tốt không còn chỉ là một con đường mở ra những cơ hội cho quý vị mà còn là một điều kiện tiên quyết.

Hiện nay, 3/4 của những ngành nghề đang tăng trưởng nhanh nhất đòi hỏi nhiều hơn là một bằng tốt nghiệp trung học. Vậy mà chỉ có hơn một nửa công dân của chúng ta có trình độ này. Chúng ta là một trong số những quốc gia công nghiệp có tỉ lệ học sinh trung học bỏ học cao nhất. Và một nửa số học sinh vào đại học không hề tốt nghiệp.

Đó là cách chắn chắn để gây ra suy thoái kinh tế, bởi vì chúng ta biết rằng những quốc gia đang vượt qua chúng ta trong sự nghiệp giáo dục ngày nay sẽ vượt qua chúng ta trong lĩnh vực cạnh tranh sau này. Đó là lý do tại sao mục tiêu của chính quyền này là bảo đảm cho mỗi đứa trẻ được hưởng một sự giáo dục hoàn toàn và có khả năng cạnh tranh từ khi lúc mới ra đời cho đến khi bắt đầu đi làm.

Chúng ta đã thực hiện một chương trình đầu tư có tính cách lịch sử cho nền giáo dục của chúng ta thông qua kế hoạch phục hồi kinh tế. Chúng ta đã mạnh mẽ mở rộng công tác giáo dục mầm non và sẽ tiếp tục cải thiện chất lượng của nền giáo dục này bởi vì chúng ta biết rằng sự giáo dục trong những năm đầu tiên trong đời sống của trẻ em là sự giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất đến việc hình thành cá tính của chúng. Chúng ta đã giúp cho thêm gần 7 triệu sinh viên nữa có điều kiện để vào đại học. Và chúng ta cũng cung cấp những nguồn lực cần thiết để tránh việc giảm bớt hay sa thải giáo viên có thể gây trở ngại cho sự tiến bộ của trẻ em.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng các trường học của chúng ta không chỉ cần thêm nguồn lực. Họ còn cần cải cách thêm. Đó là lý do tại sao ngân sách này tạo ra những biện pháp mới nhằm khuyến khích giáo viên giảng dạy tốt hơn; tạo ra những đường hướng để họ thăng tiến trong nghề nghiệp và để tưởng thưởng cho sự thành công. Chúng ta sẽ đầu tư vào các chương trình có tính cách đổi mới đang giúp các trường học đạt tiêu chuẩn cao và để thu hẹp sự cách biệt trong thành tích giảng dạy giữa các trường. Và chúng ta cũng sẽ mở rộng cam kết tới các trường công lập đặc biệt do tư nhân điều hành.

Trách nhiệm của chúng ta với tư cách là các nhà lập pháp và nhà giáo là phải làm cho hệ thống này vận hành có hiệu quả. Tuy nhiên mọi công dân đều có trách nhiệm tham gia vào công tác này. Và vì vậy, tối nay tôi kêu gọi mọi người Mỹ hãy cam kết theo học ít nhất một năm hay hơn nữa chương trình giáo dục cao đẳng hoặc học nghề. Quý vị có thể học ở đại học cộng đồng hay theo chương trình đại học 4 năm; quý vị có thể theo chương trình dạy nghề hay học việc. Nhưng bất cứ theo chương trình đào tạo nào, mọi người Mỹ đều cần phải có bằng cấp trên trung học. Việc bỏ dở trung học không còn chấp nhận được. Đó không chỉ là hành động bỏ dở đối với bản thân của quý vị mà còn là hành động bỏ dở đối với đất nước, và đất nước này cần tới và coi trọng tài năng của mọi người Mỹ. Đó là lý do tại sao chúng tôi sẽ cung cấp sự hỗ trợ thiết để quí vị hoàn tất bậc đại học và đạt được một mục tiêu mới: đó là trước năm 2020 nước Mỹ sẽ lại một lần nữa là nước có tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học cao nhất trên thế giới.

Tôi biết học phí hiện nay cao hơn bao giờ hết, vì thế nếu quí vị sẵn sàng làm tình nguyện viên ở khu vực quí vị cư ngụ hay có đóng góp cho cộng đồng hay phục vụ đất nước, chúng tôi sẽ đảm bảo quí vị sẽ có đủ tiền để trang trải học phí bậc đại học. Và để khuyến khích một tinh thần phục vụ dân tộc mới cho thế hệ này và thế hệ tương lai, tôi yêu cầu Quốc hội chuyển cho tôi dự luật được cả hai đảng ủng hộ mang tên của Thượng nghị sĩ Orrin Hatch và của một người Mỹ chưa bao giờ ngừng hỏi ông có thể làm được gì cho tổ quốc của mình – đó là Thượng nghị sĩ Edward Kennedy.

Những chính sách giáo dục này sẽ mở ra những cánh cửa của cơ hội cho con em chúng ta. Tuy nhiên, những người có thể đảm bảo rằng các em sẽ đi qua những cánh cửa đó là chúng ta. Cuối cùng thì không một chương trình hay chính sách nào có thể thay thế được người cha hay người mẹ, những người sẽ tham dự các cuộc họp giữa phụ huynh và giáo viên, hay giúp con em làm bài tập ở nhà sau bữa cơm tối, hay tắt TV, cất đi các trò chơi video, và đọc sách cho con em họ. Tôi đang nói với quí vị không phải chỉ với tư cách là một Tổng thống, mà còn với tư cách một người cha khi tôi nói rằng trách nhiệm giáo dục con cái chúng ta trước hết phải bắt đầu từ gia đình.

Dĩ nhiên còn có một trách nhiệm khác mà chúng ta phải thực hiện đối với con cái. Và đó là trách nhiệm đảm bảo rằng chúng ta không để lại những khoản nợ nần mà chúng không thể trả nổi. Với khoản thâm hụt ngân sách mà chúng ta đã thừa hưởng, với cái giá của cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt, và với những thách thức lâu dài mà chúng ta phải khắc phục, thì điều quan trọng hơn bao giờ hết là chúng ta phải đảm bảo rằng trong khi nền kinh tế của chúng ta đang hồi phục, chúng ta phải làm mọi điều cần thiết để giảm thiểu sự thâm hụt này.

Tôi tự hào rằng chúng ta đã thông qua kế hoạch phục hồi kinh tế mà không có những khoản chi tiêu không cần thiết mà các thành viên quốc hội thường thêm vào dự luật chính. Và tôi muốn thông qua một ngân sách cho năm tới để có thể đảm bảo rằng mỗi một đô-la chúng ta chi tiêu là chi tiêu cho những ưu tiên quan trọng nhất của quốc gia chúng ta.

 
Tổng thống Obama cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống một nửa trong vòng 4 năm

Ngày hôm qua, tôi đã tổ chức một hội nghị thượng đỉnh về tài chính; tại hội nghị đó, đó tôi đã cam kết cắt giảm khoản thâm hụt xuống còn một nửa trước cuối nhiệm kỳ đầu của tôi. Chính quyền của tôi đã bắt đầu kiểm tra từng dòng trong ngân sách liên bang để loại bỏ những chương trình có tính cách lãng phí và không hiệu quả. Như quí vị có thể thấy, đây là một quá trình đòi hỏi phải có thời gian để thực hiện. Tuy nhiên, chúng tôi đang bắt đầu với những khoản ngân sách lớn nhất. Chúng tôi đã xác định được 2 nghìn tỉ đô-la có thể tiết kiệm được trong 10 năm tới.

_Trong ngân sách này, chúng tôi sẽ chấm dứt các chương trình giáo dục không hiệu quả và chấm dứt việc trợ cấp trực tiếp cho những công ty nông nghiệp không cần đến những khoản tiền đó.

_Chúng tôi sẽ loại bỏ các hợp đồng không qua đấu thầu đã gây lãng phí tốn hàng tỉ đô la ở Iraq, và sẽ cải cách ngân sách quốc phòng để chúng ta không phải trả tiền cho những hệ thống vũ khí từ thời Chiến tranh Lạnh mà chúng ta không sử dụng đến.

_Chúng tôi sẽ tìm kiếm để loại bỏ những khoản lãng phí, những vụ gian lận và lạm dụng trong chương trình chăm sóc y tế Medicare không giúp cho người cao tuổi khoẻ mạnh hơn chút nào, và

_chúng tôi sẽ phục hồi sự công bằng và cân đối trong luật lệ thuế khóa của chúng ta cuối cùng bằng cách chấm dứt biện pháp giảm thuế cho các công ty đưa việc làm của chúng ta ra nước ngoài.

Để con em chúng ta không phải gánh chịu những khoản nợ nần trong tương lai, chúng tôi cũng sẽ chấm dứt việc cắt giảm thuế cho 2% những người Mỹ giàu có nhất.

Nhưng hãy để tôi nói thật rõ, bởi tôi biết là quí vị sẽ nghe thấy những lập luận cũ kỹ rằng việc loại bỏ những khoản giảm thuế này có nghĩa là sẽ có một sự tăng thuế ồ ạt đối với người dân Mỹ: nếu gia đình quí vị mỗi năm có thu nhập dưới 250,000 đô-la, quí vị sẽ không bị tăng thuế một xu nào. Tôi nhắc lại, thuế của quí vị sẽ không tăng một xu.

Trên thực tế, kế hoạch phục hồi sẽ có khoản giảm thuế – đúng vậy, giảm thuế cho 95% các gia đình lao động. Và những chi phiếu hoàn thuế đang được gởi tới cho mọi người.

Để duy trì sự lành mạnh về mặt tài chánh về lâu về dài, chúng ta cũng phải giải quyết vấn đề chi phí của các chương trình chăm sóc y tế Medicare và An sinh Xã hội ngày càng gia tăng.

Cải cách chăm sóc y tế toàn diện là cách tốt nhất để tăng cường chương trình Medicare cho nhiều năm tới. Và chúng ta cũng phải bắt đầu thảo luận về cách thức để đạt được mục tiêu như vậy đối với chương trình An sinh Xã hội, trong khi tạo ra những tài khoản tiết kiệm phổ cập không bị đánh thuế cho mọi người Mỹ. (Tiếp tục cập nhật)

Cuối cùng, bởi chúng ta cũng đang bị mất niềm tin, tôi cam kết sẽ phục hồi sự trung thực và ý thức trách nhiệm đối với ngân sách của chúng ta. Đó là lý do tại sao ngân sách này xem xét tới những vấn đề của 10 năm tới và giải thích những khoản chi tiêu bị bỏ sót theo những qui định cũ, và đây là lần đầu tiên, sự giải thích này bao gồm cả toàn bộ chi phí cho cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan. Chúng ta là đất nước có chiến tranh trong bảy năm qua. Chúng ta sẽ không che dấu cái giá phải trả cho các cuộc chiến đó nữa.

Giờ đây chúng ta sẽ cẩn thận duyệt xét các chính sách của mình đối với cả hai cuộc chiến, và trong nay mai tôi sẽ loan báo cách thức để tiến tới ở Iraq để trao lại nước này cho nhân dân Iraq và chấm dứt cuộc chiến này một cách có trách nhiệm.

Còn đối với bạn bè và đồng minh của chúng ta, chúng ta sẽ xây dựng một chiến lược toàn diện mới cho Afghanistan và Pakistan nhằm đánh bại al Qaida và chống lại chủ nghĩa cực đoan, bởi vì tôi sẽ không cho phép các phần tử khủng bố lập kế hoạch tấn công nhân dân Mỹ từ những nơi trú ẩn an toàn cách chúng ta nửa vòng trái đất.

Trong khi chúng ta gặp nhau ở đây, các quân nhân nam nữ của chúng ta đang canh gác ở nước ngoài và có thêm nhiều người đang chuẩn bị để được triển khai ở nước ngoài. Đối với tất cả những quân nhân này và đối với những gia đình đang âm thầm gánh chịu những gánh nặng của sự vắng mặt của họ, nhân dân Hoa Kỳ đồng tâm nhất trí đưa ra một thông điệp: chúng tôi vinh danh sự phục vụ của các bạn, chúng tôi được cổ vũ bởi sự hy sinh của các bạn, và chúng tôi trước sau như một ủng hộ các bạn. Để giảm bớt sự căng thẳng đối với các lực lượng của chúng ta, ngân sách của tôi gia tăng quân số của các ngành và số binh sĩ Thủy quân Lục chiến. Và để thực hiện sự giao ước thiêng liêng đối với những người phục vụ trong quân ngũ, chúng ta sẽ tăng lương cho họ và dành cho các cựu quân nhân những công tác chăm sóc sức khỏe được nới rộng và những phúc lợi mà họ xứng đáng được hưởng.

Để đánh bại chủ nghĩa cực đoan, chúng ta cũng phải cảnh giác trong việc giữ gìn những giá trị mà các binh sĩ của chúng ta đang bảo vệ – bởi vì không có sức mạnh nào trên thế giới mạnh hơn tấm gương c

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15  Sau»

Powered by vnWeblogs