Nữ Sinh Đồng Khánh Bây Giờ Là Em!

MÙA TIM HOA SIM

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 15:46

MÀU TÍM HOA SIM VÀ LỜI BÌNH CỦA MAI VĂN HOAN


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương
Người vợ chờ
                   bé bỏng
                             chiều quê...
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây  quanh.

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Ao nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
Một mình
                 đèn khuya
                                bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
                                        ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông...
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa :
" Ao anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu..."

                                       Hữu Loan


Lời bình
 
   Thời đó là chiến tranh chống Mỹ, tôi sắp sửa vào tuổi mười bảy, đang học cấp III trường huyện. Một hôm, cậu bí thư chi đoàn kéo tôi ra một góc nói nhỏ: Có người vừa phát hiện trong sổ tay văn học của Hoan có chép một bài thơ phản động của bọn Nhân văn giai phẩm". Mặt tôi tái đi, toàn thân run lẩy bẩy. Trái tim non dại của tôi vô cùng hoảng hốt. Thời đó nghe hai từ "phản động" không chỉ trẻ con mà người lớn cũng sợ. Tôi chạy một mạch về nhà trọ lục tung sách vở, nhưng tìm mãi vẫn không thấy cuốn sổ tay văn học đâu cả. Hai hôm sau thầy giáo chủ nhiệm mới trả lại cuốn sổ cho tôi. Thầy dặn: "Em hãy thận trọng khi sưu tầm thơ chép vào sổ. Không nên chép những bài thơ đã phản động...". Tôi run run cầm lại quyển sổ. Mở sổ, lướt qua các trang tôi thấy bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan bị gạch chéo và ghi bên cạnh "thơ phản động". Tôi vội vàng xé trang thơ ra khỏi sổ, vò lại và đốt đi. Nhưng cũng từ đó những câu thơ trong Màu tím hoa sim cứ ám ảnh tôi. Âu cũng là kỷ niệm một thời...
   Bây giờ đọc kỹ lại Màu tím hoa sim, tôi thấy Hữu Loan có lối viết khá hiện đại với giọng thơ tự do, phóng khoáng, câu thơ dài ngắn chen nhau. Tác giả viết theo cảm xúc,  có vần, có điệu nhưng không quá câu nệ vào vần điệu. Màu tím hoa sim không chỉ mới về cách thể hiện mà còn có những nét khác biệt về nội dung so với những bài thơ viết về cùng một đề tài. Bài thơ đã phần nào thể hiện được cái chất lãng mạn, ngang tàng của những người lính vốn là những thanh niên trí thức vừa "xếp bút nghiên" đi kháng chiến:
 
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo

 . Màu tím hoa sim của Hữu Loan không hề đề cập đến chuyện vợ mình mất trong hoàn cảnh nào (theo nhà thơ cho biết thì vợ ông bị chết đuối) nhưng cả bài thơ khiến cho người đọc, người nghe cứ rưng rưng nước mắt. Tôi còn nhớ hồi miền Nam mới được giải phóng, ở các bến tàu, bến xe mỗi lần nghe những người hát rong nức nở "nhưng không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương..." là lòng tôi cứ quặn thắt. Bao nhiêu nghịch lý chồng chất, tầng tầng, lớp lớp : "Người trai khói lửa" không chết mà "người gái nhỏ hậu phương" lại chết là một nghịch lý; mẹ ngồi bên mộ con là một nghịch lý (lá vàng còn ở trên cây nhưng lá xanh lại rụng); "chiếc bình hoa ngày cưới" - tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi, trong phút chốc đã biến thành "bình hương tàn lạnh vây quanh" cũng là một nghịch lý; ba người anh ở chiến trường "biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng" lại thêm một nghịch lý nữa... Tất cả cứ xoáy vào tâm can tác giả, xoáy vào tâm can người đọc, người nghe. Từ nỗi đau riêng, nhà thơ đã chạm đến nỗi đau chung của  người cùng cảnh ngộ, đặc biết là nỗi đau của một dân tộc phải chịu đựng bao nhiêu mất mát, đau thương qua bao cuộc chiến tranh tàn khốc như dân tộc Việt Nam.
 Bình tĩnh đọc lại Màu tím hoa sim, tôi còn thấy bài thơ thấm đẫm chất nhân văn. Chẳng hạn đoạn tác giả viết về suy nghĩ của người lính:

                    Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương
Người vợ chờ
bé bỏng
chiều quê.....
 
    Người lính ra trận, không sợ mình hy sinh, chỉ lo cho vợ ở nhà. Hình ảnh người vợ : chờ - bé bỏng - chiều quê" là hình ảnh điển hình của những cặp vợ chồng sống trên những đất nước trải qua  nhiều cuộc chiến tranh.

   Màu tím hoa sim cho ta tin rằng những bài thơ hay có cuộc sống riêng của nó, không phải cứ phê phán hay buộc tội là có thể giết chết được nó. Hãy tin vào thời gian. Thời gian bao giờ cũng sáng suốt.

                                                                        
                                                                 Mai Văn Hoan


NGÀY THƠ VIỆT NAM Ơ QUÊ TÔI

TƯ LIỆU — Viết bởi maivanhoan @ 16:23

           NGÀY THƠ VIỆT NAM Ơ QUÊ TÔI

    
    Quê tôi ở cuối dòng sông Gianh. Chỉ một vùng đất hẹp thuộc xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình mà thời chống Mỹ đã xuất hiện ba anh hùng. Không chỉ anh hùng trong chiến đấu, quê tôi còn có truyền thống văn hóa, thể thao. Đội bóng chân giày Sông Gianh của quê tôi đã từng "vang bóng một thời". Đội Văn nghệ xã tôi cũng đã giành nhiều giải thưởng trong các hội thi cấp huyện, cấp tỉnh. Cậu bé làm thơ nổi tiếng cùng thời với thần đồng Trần Đăng Khoa là Hoàng Hiếu Nhân cũng gốc gác quê tôi. Trong xã tôi có ba hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác giả Cảnh Giang (hội viên Hội VHNT Quảng Bình), Đức Sơn (hội viên Hội NHNT Thừa Thiên Huế) cũng đã có một số tập thơ "trình làng"... Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch là con rể quê tôi.  Năm nay, lần đầu tiên Hội Nhà giáo hưu trí, CLB Văn nghệ và trường thcs Thanh Trạch phối hợp tổ chức Ngày thơ Việt Nam.  Trong phạm vi cấp xã mà tổ chức được Ngày thơ Việt Nam tương đối "hoành tráng" có lẽ là điều "xưa nay hiếm" nếu không có tiềm năng, nội lực và lòng yêu mến thơ ca. (Xem tiếp)

VIẾNG MỘ THI NHÂN

BÀI CỦA BẠN — Viết bởi maivanhoan @ 17:59

NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN

Ngô Minh

Nhà thơ Mai Văn Hoan đọc thơ Phương Xích Lô trước mộ thi sĩ


Viếng mộ thi nhân tại Huế là chương trình khởi đầu trong hoạt động chào mừng Ngày thơ Việt Nam lần thứ VII Nguyên Tiêu Canh Dần tại Huế với nội dung " Thơ Cố Đô Huế hướng về Thăng Long Hà Nội ngàn năm". Sáng ngày 25/2/2010 ( tức ngày 12 Tháng Giêng Canh Dần) , rất nhiều nhà văn, nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế do hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu, chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế dẫn đầu đã lên vùng đồi miền Tây Huế viếng mộ các nhà thơ . Đã thành lệ, đây là lần thứ ba các nhà văn Huế đi viếng mộ thi nhân trong Ngày thơ Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, Ngày thơ Việt Nam là ngày Chào Lá cờ Thơ, ngày "Giỗ Thơ", nên đi viếng mộ thi nhân là việc đầu tiên phải làm. Và ở Huế , viếng mộ thi nhân trong ngày thơ Việt Nam đã thành một mỹ tục. Đoàn gồm có nhà thơ Hồng Nhu, Mai Văn Hoan, Trần Hoàng Phố, Trần Thuỳ Mai, Ngô Minh, Hạ Nguyên , Nguyễn Thiền Nghi, Lê Vĩnh Thái, Nguyên Quân, Lê Tấn Quỳnh.v.v.. cùng gần 20 em học sinh lớp chuyên văn trường đại học Khoa Học do cô giáo, hoạ sĩ Võ Thị Quỳnh chủ nhiệm cùng đi . Chương trình do Tạp chí Sông Hương tài trợ. Tạp chí đã thuê xe, mua nhang , rượu ngon cho các nhà văn đi viếng mộ.

Mộ các nhà thơ, nhà văn ở Huế tập trung ở 3 khu vực gồm Nhà thờ Phan Bội Châu- Nghĩa Trang Phan Bội Châu, Đồi Từ Hiếu và Nghĩa trang nhân dân thành phố Huế. Đoàn đã lên Nhà thờ Phan Bội Châu ở đường Phan Bội Châu thắp nhang viếng mộ cụ Phan, một nhà thơ , nhà cách mạng nổi tiếng của nước ta đầu thế kỷ XX. Nhà thờ Phan Bội Châu vừa qua đã được sửa sang lại đẹp hơn. Các em học sinh chuyên văn Đại học Khoa Học Huế ríu rít thắp nhang bên tượng cụ Phan. Bức tượng bán thân Phan Bội Châu do họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn ( định cư ở Úc, đã mất) thực hiện năm 1973 cao 4,5m, rộng 3,5m, dày 2,5m, gồm 12 mảnh ghép thể hiện chân dung cụ Phan với hai mảng phù điêu phản ánh hiện thực và ước mơ. Mảng bên trái là bóng tối thể hiện xiềng xích nô lệ, áp bức và tù đày của chế độ thực dân xâm lược. Mảng bên phải biểu đạt ước vọng hòa bình và độc lập, ấm no và hạnh phúc. Tượng được đặt trên một bệ hình khối chữ nhật cao 2m bằng đá hộc. Từ 30 năm nay, tượng được đặt tạm trong khuôn viên nhà thờ cụ Phan . Theo các nhà chuyên môn, bức tượng được đánh giá là lớn và đẹp nhất nước hiện nay. Nhưng vì nhiều lý do mà hơn 30 năm qua, vẫn chưa tìm được vị trí tương xứng để đặt. Vừa qua giới chức văn hoá tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã có cuộc họp bàn việc năm 2010 này sẽ đặt bức tượng Phan Bội Châu ở một vị trí bên bờ sông Hương để Huế có thêm một điểm du lịch đẹp, ý nghĩa.

Nghĩa trang Phan Bội Châu ở 5-đường Thanh Hải, Huế là khuôn viên mà sinh thời cụ Phan Bội Châu dùng tiền riêng của mình mua để làm nơi chôn cất những người yêu nước. Các nhà văn Huế và các em học sinh đã kinh cẩn thắp nhang cho các nhà thơ, nhà văn lớn có mộ ở đây như Nữ sử Đạm Phương, nhà văn Hải Triều ( là bà nội và bố của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm), nhà thơ Thanh Hải và các nhà cách mạng khác như Nguyễn Chí Diễu.v.v..

Đồi Từ Hiếu ( nơi có chùa Từ Hiếu) là nơi có nhiều mộ các thi sĩ Hoàng tộc và các nhà cách mạng. Len lỏi vượt qua cây xấư hổ dày đặc và những bức tường xây cao thấp, lắt léo của một nghĩa trang dày đắc mộ chí, các nhà văn và các em học sinh đã tìm đến thắp nhang cho Nhà thơ Tùng Thiên vương Miên Thẫm ( con vua Minh Mạng), một nhà thơ nổi tiếng Huế thế kỷ XIX. Sau đó đến viếng ngôi mộ chung của nhà thơ Vĩnh Mai và vợ là bà Phương Chi. Nhà thơ Vĩnh Mai là Bí thư đầu tiên cuả Thành uỷ Huế. Ngôi mộ hai vợ chồng đã được nhà thơ Nhât Lâm cải táng chung giữa năm 2009 theo di chúc của nữ sĩ Phương Chi, sau khi bà mất. Ở đồi Từ Hiếu đoàn còn thắp nhang vái lạy các nhà cách mạng chống Pháp kiên cường như Trần Thúc Nhẫn, Trần Cao Vân, Thái Phiên. Trần Cao Vân và Thái Phiên dân xứ Quảng bị Pháp bắt vì chống Pháp, bị xử chém được nhân dân chôn chung mộ. Ngôi mộ chung có 2 tấm bia được bà con xây cất đàng hoàng.

Dọc đường Tam Thai lên Nghĩa trang nhân dân Huế có mộ của hoạ sĩ tài ba Bửu Chỉ, các nhà thơ Hải Bằng, Nguyễn Văn Phương ( Phương Xích lô) , Nguyễn Xuân Hoàng và Thái Ngọc San. Trưa nắng nóng, nhưng các nhà văn, các em học sinh mồ hôi mồ kế đã hăng hái tìm đến các ngôi mộ thi sĩ. Mộ hoạ sĩ Bửu Chỉ ở cạnh Chùa Ba Đồn được gia đình xây cất rất đàng hoàng. Mới đó mà hoạ sĩ ra đi đã 5 năm rồi. Nhà thơ Trần Hoàng Phố, hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu đã châm điếu thuốc Ngựa cắm lên bát nhang rồi rót rượu cúng hoạ sĩ. Ở mộ nhà thơ Phương Xích lô , nhà thơ Mai Văn Hoan đã xúc động đọc cho các em học sinh nghe bài thơ Trôi mà thi sĩ Nguyễn Văn Phương chép tặng trong sổ tay Mai Văn Hoan rồi Phương quên chưa công bố trong các tập thơ của anh. Bài thơ như tiếng thốt lên của định mệnh : Mai ta chết / mồ kia xanh ngọn cỏ / Những mùa thu vẫn lặng lẽ đi qua / Có chiếc lá nào / rơi / trên bia mộ / Ai chôn dùm xác lá / cạnh gần ta ! / Mai ta chết / có ai cười, ai khóc / Trong tận cùng sâu thẳm / ta nằm nghe / Có ai đến bên ta ngồi đọc / lời thơ tưởng niệm gọi ta về... / Mai ta chết / có ai lên đó hỡi / Trên mồ ta / những / quạ rú thông reo / Đè lên ta/ bằng tháng ngày / ớn lạnh / Giữa bốn bề / nghĩa địa / đìu hiu... Các nhà văn rót rượu tưới lên mộ Phương. Các em học sinh xúc động đứng quanh mộ chụp ảnh kỷ niệm. Thấy trên mộ Phương cát bị xói, nhà thơ Nguyên Quân đã đến nhà bà cạnh đó gửi tiền nhờ bà mua một xe ba gác sỏi rải lên mộ nhà thơ. Thật tình nghĩa.
Mộ nhà thơ Thái Ngọc San nằm dưới đồi thông đẹp. Gia đình , bạn bè đã xây cất khuôn viên mộ rất đẹp và sang trọng. Có cả bàn đá cho bạn bè đến viếng ngồi uống rượu. Nhà thơ Nguyên Quân đã lấy rượu trắng tưới lên bia mộ Thái Ngọc San để lau cho sạch cho mọi người chụp ảnh. Sau đó nhà văn Hồng Nhu ( đã 77 tuổi vẫn theo anh em đi viếng mộ thi nhân suốt buổi sáng), Trần Thuỳ Mai, Ngô Minh, Mai Văn Hoan ...đã lần lượt thắp nhang vái lạy, chúc nhà thơ yên nghỉ ngàn Xuân.
Mộ nhà thơ Nguyễn Xuân Hoàng ( thư ký toà soan Tạp chí Sông Hương, mất khi 41 tuổi) nằm trong khuôn viên mộ gia đình bên vợ. Xuân Hoàng là thi sĩ rất ngất ngưỡng, nên ở mộ anh, người bạn thân là nhà thơ Hạ Nguyên ( tức Hồ Đăng Thanh Ngọc, phụ trách Tạp chí Sông Hương) đã khuy chai rượu quý để mọi người cụng ly với hương hồn thi nhân. Ai cũng tưới lên mộ Xuân Hoàng một chén rồi cụng ly uống một chén . Rồi anh em đọc những bài thơ cuối đời của Nguyễn Xuân Hoàng. Bài thơ Lệ nến như một dự báo số phận thật xúc động. Cháy nữa thôi nến ơi / Hanh khô từng giọt máu / Nhen tình em nhân hậu / Độ lượng ấm vòng tay / Cháy nữa thôi nến ơi /Ta đợi em / Nến tàn / Héo khô dòng nước mắt / Gót chân khuya / Em về / Bình minh lên / tím buốt / Cháy nữa thôi nến ơi / Một kiếp người ngắn ngủi..
Sáng Ngày 12 Tết Canh Dần, đoàn nhà văn Thừa Thiên Huế cùng các em học sinh chuyên văn Quốc Học đã khởi động Chương trình hoạt động ngày Thơ Việt nam tại Huế bằng cuộc tìm viếng mộ thi nhân rất cảm động và tình nghĩa. Tôi nghĩ, có lẽ đây là việc đáng làm nhất trong Ngày thơ Việt Nam mà Hội Nhà văn Việt Nam nên dành một hai ngày trước Ngày thơ Việt Nam hàng năm để viếng mộ các thi nhân nổi tiếng hàng đầu của nước ta như Nguyên Du, Nguyễn Công Trứ, Văn Cao, Cù Huy Cận, Phùng Quán , Trần Dần, Tố Hữu.v.v..Và phải duy trì Ngày viếng mộ thi nhân thành một tập tục văn hoá Việt .

Sau đây là một số hình ảnh  đi Viếng mộ thi nhân ở Huế sáng 12 tháng Giêng Canh Dần :



Ngô Minh viếng mộ nhà văn Hải Triều

Đoàn viếng mộ thi nhân lên đồi Từ Hiếu

Nhà văn Hồng Nhu thắp nhang mộ Vĩnh Mai-Phương Chi


Viếng mộ Trần CAo Vân- Thái Phiên

Nhà văn Trần Thuỳ Mai trước mộ nhà thơ Thái Ngọc San

 


Anh em ngồi nghỉ bên mộ nhà thơ Thái Ngọc San


Ngô Minh thắp nhang cho nhà thơ nguyễn Xuân Hoàng

Nguồn : Blog Ngô Minh


THƠ VỀ MẸ

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 12:57
Trang chủLiên hệThứ bảy, 13/ 02/2010, 12:53:57 PM
Tất cả  Thi viện
 
 
"Mẹ là đất nước, tháng ngày của con" (20/10/2008)
 

"Mẹ là đất nước, tháng ngày của con"

(Trần Đăng Khoa)

     MẸ - chủ đề lớn không thể thiếu của thi ca muôn đời. Hình ảnh MẸ hiền hoà bao dung và luôn gắn liền với đồng quê một sương hai nắng, tần tảo thân cò nuôi con lớn khôn. Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, lucbat.com xin giới thiệu cùng bạn đọc những vần thơ chan chứa tình yêu thương và lòng biết ơn vô bờ của các thi nhân khi viết về MẸ kính yêu.

 

 

Bờ sông nhớ mẹ

Bâng khuâng cầm lại mái chèo
Đưa dòng kỷ niệm ngược theo tháng ngày

Cũng trời , cũng nước , cũng mây
Cũng con sông , cũng bóng cây , đôi bờ


Cũng chiếc đò của tuổi thơ
Cũng dòng nước chảy lửng lờ mẹ ơi !

Mẹ đi mấy chục năm rồi
Bờ sông nhớ mẹ bồi hồi sóng xao


Bến xưa đò mẹ cắm sào
Cành sung nghiêng bóng...ngày nào cũng mong

Và con đò vẫn chờ trông
Mái chèo nhắc mẹ trên dòng thời gian ...


             Mai Văn Hoan
      (Trường Quốc Học - Huế )

Mẹ ơi!!!


Nghe tin ngoài Bắc rét về
Trong Nam con cũng đã tê tê lòng
Thương cho cây lúa mới trồng
Thương đôi vai mỏng mẹ gồng trời đông

Thuở còn con gái má hồng
Rét Nàng Bân vẫn không là gì
Bây giờ sức khoẻ trôi đi
Mong manh cơn gió,mẹ thì đã run

Bàn chân lội ruộng dẫm bùn
Nứt ngang,nẻ dọc,móng cùn,da khô
Bây giờ cái rét thập thò
Mẹ ơi!Đi đứng,dặm dò sao đây?

Thương mẹ thương nhất bàn tay
Vừa ẵm con,vừa cấy cày... bao năm
Bây giờ giá rét căm căm
Bát cơm,đôi đũa,mẹ cầm chắc không?

Mùa đông ơi!hỡi mùa đông!
Tôi xin nhận cả vào lòng của tôi
Để cho mẹ ấm trọn đời
Để cho mẹ mãi nụ cười mùa xuân

Thầy giáo Nguyễn Duật Tu

Mẹ của anh

Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đó thôi
Mẹ tuy không đẻ, không nuôi
Nhưng em ơn mẹ suốt đời chưa xong.
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh, mẹ thức, lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao
Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh.
Nào là hoa bưởi, hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa
Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh, em đã là dâu trong nhà
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau nỗi âu lo nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng
Giữa ngàn hoa có núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắt chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em...

Xuân Quỳnh

Mẹ ốm

Mọi hôm mẹ thích vui chơi
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan
Khắp người đau buốt, nóng ran
Mẹ ơi ! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào
Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi
Mẹ vui, con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo
Vì con, mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khỏe dần dần
Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say
Rồi ra đọc sách, cấy cày
Mẹ là đất nước, tháng ngày của con.

Trần Đăng Khoa

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò... sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ không

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...

Nguyễn Duy

 (Lucbat.com)


Chín tới để tỏa hương

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 12:03
Lục bát Mai Văn Hoan - Chín tới để tỏa hương (13/08/2008)
 

Mai Văn Hoan lặn lội với nghề dạy học đã 27 năm, nhập vào thơ anh dễ thương như chàng trai mới lớn. Tôi và anh quen biết nhau gần hai mươi năm ; từng ngồi chong đêm với cút rượu làng Chuồn trong quán cóc đường Ngô Quyền, nghe phượng hoa vàng thấm ướt đường khuya. Nhờ sự gần gũi ấy, khi tôi đọc tập Lục bát thơ, tôi không ngạc nhiên khi dòng sáu tám của anh trữ tình, đa mang và sâu lắng.

     Anh sinh ra và lớn lên ở cửa sông, mở mắt đã chạm vào bao la của trời và nước, chạm vào cuộc rong chơi lãng mạn của gió và nỗi chờ đợi trầm kha về một cánh buồm:

 ...Cha ra đánh cá ngoài khơi

 Những chiều ta đứng trông vời chân mây

 Thuyền về tôm cá chất đầy

 Tóc cha sém nắng, bàn tay chai sần...'

                       (Buồn trông cửa bể)

     Khi chạm vào tình yêu anh ngập ngừng thốt lên:

Hiện em đang có một người

Yêu em say đắm chưa lời nói ra

Em đang làm khổ người ta

 Bởi vì mái tóc mượt mà, nhung đen

 Bởi vì gương mặt hồng sen

 Bời vì những ngón tay mềm này đây!

...Bày trò cốt để đùa chơi

 Ngờ đâu anh ngõ được lời cùng em

                            (Xem tay)

      Nói về nữ sinh, anh có bài Nữ sinh Đồng Khánh, nhiều thế hệ học trò dưới mái trường Hai Bà Trưng, giữ mãi trong sổ lưu bút ngày xanh:

Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa

Xui hoàng hồn tím trang thơ học trò

Nữ sinh Đồng Khánh qua đò

Xui dòng Hương cất giọng hò xa xôi

Nữ sinh Đồng Khánh dạo chơi

Phấn thông vàng rải ngát trời Thiên An

Trống trường Đồng Khánh vừa tan

Trên đường phơi phới từng đàn bướm bay

     ... Lục bát thơ của anh miết mải một dòng chảy mềm mại, ngay lúc thương đau, nói điều gan ruột, anh vẫn một giọng tha thiết:

Thuỳ ơi, bạn ở nơi đâu ?

Mình nhìn chỉ thấy một màu cỏ xanh

Mé đồi thấp thoáng mái tranh

Hắt hiu khói nhạt, Kỳ Anh vương buồn

Mình qua quê bạn hoàng hôn

Bóng hình bạn cứ như còn đâu đây...

                      (Tìm mộ bạn)

Nữ sinh Đồng Khánh xưa

     Bốn mươi bảy bài lục bát trong tập là những lời tự sự về cha mẹ, cuộc đời, bè bạn, tình yêu và nhất là lứa tuổi học trò trong sáng, mộng mơ của xứ Huế mà anh đã và đang được làm thầy. Hãy đọc lời tựa của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo về tập thơ Ảo Ảnh của anh xuất bản năm 1988 : 'Thơ Mai Văn Hoan chỉ xuất hiện thấp thoáng trên sách báo hơn mười năm trở lại đây, nhưng lại 'xuất hiện' khá nhiều trong trong sổ tay của nhiều lứa sinh viên, học sinh ở Huế. Phải chăng, thơ anh đồng cảm với tâm lý trong sáng tế nhị của những người mới bước vào ngưỡng cửa tình yêu ? Hiệu quả thơ Mai Văn Hoan chính là hiệu quả tâm lý ấy. Không ồn áo, không trang điểm, thơ anh có lực đẩy của ngọn gió tàng hình, mở ra cánh cửa giấu kín bao bí mật của tình cảm. Ở đây, lồng lộng những khoảng trời mây cao; âm thầm một hình hoa độc sắc và cũng có khi chỉ là một ảo ảnh không thể thiếu vắng trong đời...'

     Bao năm đứng trên bục giảng và lặng lẽ làm con tằm nhả thơ, thạc sĩ văn chương Mai Văn Hoan đã viết như một tuyên ngôn về thơ anh:

Cứ nói điều gan ruột

Hay dở có thời gian

Mong sao đừng bỏ cuộc

Dù còn chút hơi tàn...

     47 bài thơ trong Lục bát thơ là những lời tự sự tỏ tình có cánh, là 47 bông hoa khi đằm thắm thiết tha, khi thâm trầm triết lý mà nhà thơ Mai Văn Hoan dâng tặng cho đời, tặng cha mẹ. bè bạn và các thế hệ học sinh thân yêu của mình... Tính đến nay, anh đã in 8 tập thơ và nhiều tập tiểu luận, chứng tỏ sức viết của anh đang độ Chín Tới Để Toả Hương...

Huế, ngày 16 tháng 6 năm 2006

        Nguyễn Nguyên  An

Xem tay

Anh nào có biết xem tay

Cái trò bói toán anh bày trêu chơi

Làm như thông thạo lắm rồi

Anh ngồi anh phán đường đời của em

Nói riêng về số nhân duyên

Em hơi rắc rối, hơi phiền chút thôi

Hiện em đang có một người

Yêu em say đắm, chưa lời nói ra

Em đang làm khổ người ta

Bởi vì mái tóc mượt mà, nhung đen

Bởi vì gương mặt hồng sen

Bởi vì những ngón tay mềm này đây !

Em cười... đôi má... đỏ hây

Còn anh cảm thấy ngất ngây trong lòng

Cái điều anh vẫn ước mong

Ngại ngần anh cứ nói vòng, nói quanh

Kẻ yêu em - chính là anh !

Bởi chưng líu lưỡi mới thành người ta

Và em cũng chợt hiểu ra

Ngón tay em khép như là hổ người

Bày trò cốt để đùa chơi

Ngờ đâu anh ngỏ được lời cùng em !
         

                                                                         Mai Văn Hoan
Nguồn : Thơ lục bát


HOA KHÔNG NỞ CHO TÔI

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 20:33

HOA  KHÔNG  NỞ  CHO  TÔI

                              
                 " Chỉ e hoa nói nên lời
              Em không phải nở cho người già nua "
                                        Lưu Vũ Tích


Có lẽ người xưa nói đúng
Hoa đâu còn nở cho tôi
Tháng năm tuổi xuân rơi rụng
Đời tôi bóng đã xế rồi


Tóc đã chen đôi sợi bạc
Trán đã hằn vài nếp nhăn
Còn hoa thì thơm ngào ngạt
Cánh hoa rực rỡ sắc xuân


Tôi biết sớm chiều ong bướm
Dập dìu quấn quít bên hoa
Còn tôi là người ngoài cuộc
Giả vờ vô tình đi qua

Làm như không hề để ý
Vì hoa đâu nở cho tôi
Dừng chân, chỉ dừng một tí
Ngắm hoa, chỉ ngắm trộm thôi


Cũng may mà hoa không nói
Tôi như còn thấy hoa cười
Và tôi tự mình an ủi
Đa tình đâu chỉ riêng ai !


Ức Trai ngày xưa cũng thế
Tóc ba phần bạc thương dân
Gặp gái Tây Hồ bán chiếu
Trái tim vẫn động tình xuân


Tôi sợ một hôm nào đó
Thấy hoa rã cánh trong vườn
Thương một đời hoa ngắn ngủi
Nắng mưa tàn tạ sắc hương


Hoa rơi âm thầm lặng lẽ
Còn ai tưởng nhớ đến hoa
Còn đâu cái thời rực rỡ
Dập dìu ong bướm lại qua


Và tôi như người hành khất
Lần tìm nhặt cánh hoa rơi
Một mình âm thầm nuối tiếc
Dẫu hoa không nở cho cho tôi !

              
            Mai Văn Hoan




GIẾNG LÀNG

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 17:36
Giếng làng (10/10/2008)
 

     Nông thôn Việt Nam xưa phần nhiều là nhà gianh, do đó rất ít nhà có bể nước mưa, người làng chủ yếu dùng nước giếng công cộng để nấu ăn. Vì thế "Cây đa - Giếng nước - Mái chùa" đã trở thành những hình ảnh của quê hương, nhất là đối với người xa xứ.

Cây đa cùng với Giếng làng
Quê hương nguồn cội - hành trang cuộc đời
Giếng làng ơi ! Giếng làng ơi !
Trong tôi lắng tiếng gàu rơi ... Giếng làng.

                               (Nguyễn Xuân Tư)

     Nước mưa là tinh khí của trời cha và được đất mẹ giữ lấy, để từ đây mọi sinh linh sinh sôi và phát triển. Giếng nước là nơi tụ hội nguồn sống, là nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra, và do đó nó là nơi của niềm hoan lạc kỳ thú. Trong sinh hoạt đời thường, người ta lấy nước giếng về dùng trong sinh hoạt như nước mưa, nó ngọt lịm khoan khoái như móc lành, làm dịu cơn khát và góp phần tạo nên những bữa ăn hàng ngày. Giếng nước còn là chiếc gương lớn để các cô gái ra gánh nước thì tranh thủ soi mình làm duyên. Và vì thế bên giếng làng thường diễn ra những cuộc hò hẹn ân tình lứa đôi:

Hỡi người duyên số dở dang

Nhớ chăng đêm ấy... trăng vàng chung soi

Lỡ tay thương chiếc gàu rơi

Làm xao lòng giếng... một thời vụng yêu

                           (Giếng làng - Mai Văn Hoan)

     Trong cái tổng thể văn hoá làng quê bình dị mà lung linh huyền ảo, cây đa có thần, mái chùa có phật thì giếng nước là sự tượng trưng cho sự dồi dào sung mãn và cho nguồn gốc của sự sống. Bàn thờ gia tiên ở nhà dân hay bàn thờ thần thánh ở đền, đình đều không thể thiếu được bát nước mưa hay nước giếng. Trước ngày hội làng, bài vị và ngai thờ Thành hoàng đều được mục dục (lau chùi) bằng nước giếng hay nước sông. Và nếu hội có thi nấu cơm hay thi làm cỗ thì đều lấy nước từ giếng làng.

Vài mươi năm nay, nông thôn từ ngày ngói hoá thì nhiều nhà đồng thời cũng có bể nước mưa, và khi triển khai phong trào nước sạch nông thôn thì nhà nhà có giếng đào và giếng khoan, do đó nhiều nơi chiếc giếng làng bị lãng quên và rồi san lấp để lấy mặt bằng xây dựng! Tuy nhiên không ít nơi chiếc giếng vẫn đang tham gia vào cuộc sống thường nhật của dân làng, thậm chí gắn bó với đời sống tâm linh của cả cộng đồng. Làng Giang Xá (Hà Tây) ngay trước cửa đền Lý Nam Đế là một khẩu giếng đất to, mặt thoáng thường xuyên thả bèo ong giữ cho nước giếng luôn trong mát. Làng Hiệp Thuận (Hà Tây) đào trong cù lao nhỏ giữa hồ có đường thông ra, đang là nguồn nước sạch của nhiều nhà. Nhiều nơi, trước cửa đình vẫn còn khẩu giếng bán nguyệt xây gạch Bát Tràng gợi lại khúc sông cong làm nơi tụ thuỷ - tụ phúc.

Giếng làng Hà Đông

Cũng có một số giếng ngày nay không còn giá trị sử dụng nhưng vẫn được địa phương giữ gìn sạch sẽ, chẳng hạn khẩu giếng ở đầu đình Đại Phùng (Hà Tây) bên dưới xây bằng những thỏi đá ong, còn thành giếng là cả một khối đá ong khoét rỗng lòng, trông thật mộc mạc mà đanh chắc, hay khẩu giếng ở trước nhà Tổ chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) có thành giếng là một khối đá xanh khoét rỗng lòng, phía ngoài toả chân ra nền sân giếng tạo thành một đoá sen nở rộ với những cánh hoa chạm khá cầu kỳ. Bảo tàng Mỹ thuật đã phục chế khẩu giếng này trưng bày trong vườn cảnh như một di sản văn hoá quý. Sân chim Dâu (Bắc Ninh) còn khẩu giếng không có thành cao, hình thức đơn giản như truyền thuyết cho biết là lỗ cắm cây gậy của nàng Man Nương được sư Khâu Đà La cho để chống hạn, nước rất trong và không bao giờ cạn, nhà chùa vẫn dùng cho sinh hoạt. Trong thượng điện quán Linh Tiên (Hà Tây) có một khẩu giếng mà dân địa phương bảo là huyệt đan sa rất thiêng, nước trong ngọt và không bao giờ cạn, vẫn lấy nước cúng trong Thần điện.

     Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được dựng từ thời Lý, hiện còn dấu tích những 3 khẩu giếng cổ: khẩu giếng trên sườn núi phía sau chùa được kè đá với bậc xuống từ phía sau, đáy ao từ một tảng đá tự nhiên được chạm thành đôi rồng, nay tuy không còn nguyên vẫn nhận ra rõ ràng, thư tịch xưa gọi là Long Trì. Trên sân bãi trước cửa chùa có khẩu giếng dưới đáy có tượng đầu rồng thời Lý rất điển hình, từ đây nước dù tát cạn lại phun ra rất nhanh. Dưới ao chùa cạnh đó, gần đây cũng phát hiện một khẩu giếng nữa, dưới đáy có một số đồ đất nung vốn xưa được trang trí cho kiến trúc. Chùa Giam (Bắc Ninh) trên nền chùa, phía sau cột đá chạm rồng cao hơn 5m vẫn còn dấu tích một khẩu giếng, dù ở phía bắc cột nhưng dân địa phương kể trong năm có ngày bóng cột sẽ ngả vào giếng, biểu hiện sự trường tồn cho dân cho nước. Chùa Phổ Minh (Nam Định) ngoài cặp giếng đất cân đối ở sân trước chùa được truyền là cặp mắt rồng, phía sau chùa đã phát hiện khẩu giếng cổ mà thân giếng được xếp bằng những chiếc vại đựng vôi đảm bảo cho nước luôn trong và sạch. Còn chùa Keo (Thái Bình) có khẩu giếng bên cạnh điện thánh, thân giếng được xếp bởi những chiếc cối đá  thủng, truyền là đã dùng để giã gạo trong khi dựng chùa.

     Ở đình Ngô Nội (Bắc Ninh) có bức chạm từ cuối thế kỷ 17, trong bức cốn gỗ ở trên cao, nghệ sĩ xưa chạm cảnh cô gái làng ra giếng gánh nước, đôi quang thùng nước và chiếc đòn gánh còn gác lên thành giếng, cô gái gặp người tình và hai người đang ân ái thì bị người khác thổi ống xì đồng làm chết. Họ chết vào giờ thiêng, được dân làng ghi hình và thờ phụng.

     Thiêng hơn cả là những chiếc giếng từ buổi đầu dựng nước. Trên núi Trân Sơn (Bắc Ninh) có vạt núi đá được gọi là "Giếng Việt", các khe đá nứt từ đó toả ra xung quanh, trên cao nhìn xuống như hình cửa mình bà mẹ xứ sở khổng lồ. Và có lẽ vì thế, giếng luôn là biểu trưng của âm tính với nước thiêng nguồn sống vĩnh hằng. Còn trong khu đền Hùng (Phú Thọ), ở dưới chân núi phía đông nam có đền Giếng là nơi thờ tự công chúa Ngọc Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và công chúa Tiên Dung (sau lấy Chử Đồng Tử), hiện vẫn còn khẩu giếng tương truyền là gương soi của hai nàng công chúa con Vua Hùng thứ 18. Trong khu thành Cổ Loa (Hà Nội), trước đền Thượng vẫn còn khẩu giếng ở giữa hồ, tương truyền nơi hồn Mị Châu đã hiện hình để dụ cho Trọng Thuỷ nhẩy xuống, dân địa phương bảo để trả mối thù bị lừa lấy mất lẫy nỏ thần, song văn học dân gian lại ghi nhận mối tình đôi lứa thuỷ chung.

     Giếng làng nay còn ít và cũng ít giá trị thực dụng, nhưng những giá trị văn hoá của nó lại càng đậm trong tâm thức mọi người, và vì thế nó cứ lung linh toả sáng.

(Theo PGS.Chu Quang Trứ)

Giếng làng

Về quê, tìm lại giếng làng

Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân

Bao phen trời đất xoay vần

Làng xưa, xóm cũ mấy lần đổi thay.

Nép sau vườn dưới vòm cây

Lòng băn khoăn : có phải đây giếng làng ?

Hỡi người duyên số dở dang

Nhớ chăng đêm ấy... trăng vàng chung soi

Lõ tay thương chiếc gàu rơi

Làm xao lòng giếng... một thời vụng yêu

Giếng làng thuở ấy trong veo

Chia khắp thiên hạ: giàu, nghèo, hèn, sang...

Gái làng tắm nước giếng làng

Tóc càng óng mượt, da càng mịn thơm!

Bây giờ nước có đầy hơn

Chạnh buồng tên giếng không còn từ lâu

Bâng khuâng cầm lại dây gàu

Buông tay nhè nhẹ... sợ đau giếng làng.

Mai Văn Hoan

 

 

Nguồn Thơ lục bát

DƯ ÂM SEA GAMES 25

VĂN — Viết bởi maivanhoan @ 21:02

                             DƯ ÂM SEA GAMES 25

        
    Tôi đang tràn trề cảm hứng thì trận thảm bại của U23 Việt Nam làm tiêu tan tất cả. Về đến Huế vẫn chưa hết buồn. Mưa và lạnh. Lần giở những trang nhật ký ghi vội ở Viên Chăn cứ thấy tiêng tiếc. Sea games 25 trôi qua đã hơn nửa tháng rồi nhưng dư âm những ngày sôi nổi, hào hứng ấy khiến tôi không thể nào dứt ra được. Thế là tôi quyết định viết những dòng muộn màng này.
       (Xem tiếp)

PHƯƠNG ẤY NHIỀU HOA

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 17:28

PHƯƠNG ẤY NHIỀU HOA


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Tôi cứ tìm vơ vẩn đâu đâu
Tôi cứ đi mặc mưa dầm giá rét
Bùn sục dưới chân, gió táp trên đầu


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Năm tháng qua tôi lên thác xuống đèo
Hoa chẳng thấy chỉ voi gầm, cọp thét
Khỉ đu mình trên vách đá cheo leo


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Tôi cứ đi mặc bao tiếng chê cười
Chân dẫm phải chông gai, rắn rết...
Đi tìm hoa lại gặp quỷ mặt người


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Sao đến giờ tôi mới được gặp em
Khi cánh cửa cuộc đời tôi đã khép
Em như vầng trăng mười sáu vừa lên...


              
                Mai Văn Hoan


VÀI MẨU CHUYỆN NHỎ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY

VĂN — Viết bởi maivanhoan @ 21:05
   VÀI MẨU CHUYỆN NHỎ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY
 
    
     
        Thời học lớp 8 (tương đương với lớp 10 bây giờ), cấp 3 Quảng Trạch, Quảng Bình (niên khóa 1964 - 1965), tôi nhớ mãi tiết dạy hoá của thầy Bùi Ngọc Lâu.  Thầy hơi thấp, nước da trắng hồng như da con gái . Thầy ăn mặc bình dị mà thanh thoát, nho nhã.  Vào lớp, lúc nào thầy cũng gập lưng, khoát tay chào rất kiểu cách. Thầy giảng ngắn gọn, dễ hiểu. Thầy có những nhận xét rất hóm hỉnh và thâm thúy.  (Xem tiếp)

MAI VĂN HOAN

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 09:48

                               

        Mai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Anh tốt nghiệp khoa Văn, đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường : Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng (1979-1985), Quốc Học (1985-2009). Anh cũng từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên Huế (1989- 2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý, nhà văn, nhà báo... nhưng vẫn "mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan" như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet. 
      Cho đến nay, Mai Văn Hoan đã xuất bản bảy tập thơ : Ảo ảnh (1988); Giai điệu thời gian (1989); Hồi âm (1991); Trăng mùa đông (1997); Giếng Tiên (2003); Lục bát thơ (2006); Điếu thuốc và que diêm (2009). Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Mai Văn Hoan "có lực đẩy của ngọn gió tàng hình, mở ra cánh cửa giấu kín bao bí mật của tình cảm. Ở đây, lồng lộng một khoảng trời mây cao; âm thầm một bình hoa độc sắc; và cũng có khi chỉ là một ảo ảnh không thể thiếu vắng trong đời...". Còn nhà thơ Hoàng Vũ Thuật thì nhận xét : "Mai Văn Hoan viết về tình yêu với mong muốn thức dậy sức sống trong con người, hướng con người đi đến cái cốt cách cao thượng, xoá dần những thói ích kỉ, tầm thường..."
       Anh là thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận văn học. Những bài phê bình tiểu luận của anh đã được đăng tải trên các báo, tạp chí trong cả nước. Anh đã xuất bản : Cảm nhận thi ca (tập 1, 1991); Cảm nhận thơ Hàn Mặc Tử (1999); Cảm nhận thi ca (tập 2, 2008). Đôi nét chân dung các nhà văn Việt Nam ở Huế (2009)
         Châm ngôn của anh : Sống chân thật, giản dị. Viết giản dị, chân thật.
         Mai Văn Hoan tâm niệm : 

                                      Cứ nói điều gan ruột
                                      Hay, dở có thời gian
                                      Mong sao đừng bỏ cuộc
                                      Dù còn chút hơi tàn !
        
       
      Tạp chí Sông Hương, tháng 11 - 2009, giới thiệu




Sau đây là chùm thơ Mai Văn Hoan tự chọn :


          
 



   TIẾNG CHIM HOÀNG HÔN


Tôi trở thành người xa lạ
Lặng lẽ tìm về chốn xưa
Chẳng ai nhận ra tôi cả
Một mình lạc lõng, bơ vơ...


Một mình bơ vơ, lạc lõng...
Ngượng ngùng như kẻ vô duyên
Lâu rồi, còn ai nhớ nữa ?
Mong gì gặp lại người quen !


Người ấy... chân trời, góc bể
Long đong bèo dạt, mây trôi...
Cuộc sống áo cơm vất vả
Chuyện xưa, chắc đã quên rồi !


Tôi đành ngậm ngùi quay gót
Trái tim trĩu nặng u buồn
Bỗng nghe tiếng chim lảnh lót
Làm xao động cả hoàng hôn


Tôi cảm ơn chim, chim nhé
Không ngờ còn nhận ra nhau !
Giọng chim vẫn trong như thế
Chỉ tóc tôi đã đổi màu...



                           

  TRÁCH   CHÀNG   KIM


Thật thà chi bấy chàng Kim
Trong đêm tái hợp đi tin lời Kiều
Nghĩ mình lưu lạc đã nhiều
Buộc lòng nàng phải nói điều thiệt hơn
Sao chàng không thấu nguồn cơn ?
Để cho nàng tự vùi chôn đời mình !
Gặp nhau biết mấy là tình
Nhói đau tim chị... lặng nhìn duyên em
Trách chàng khéo chọn lời khen
Xót xa thân phận, Kiều thêm não lòng
Bấy lâu nàng vẫn thầm mong
" Nhị đào thà bẻ..." mà không gặp người
Quả cau nhỏ, miếng trầu hôi
Sao không thắm lại nụ cười Xuân Hương ?
Đoạn trường càng nghĩ càng thương
" Đã tu tu trót..." còn hơn thế này !
Thức cùng nhau trọn đêm nay
" Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời"
Sao chàng đã vội tin lời
Sao chàng đã vội buông xuôi hỡi chàng ?
Xưa dở dang, nay dở dang...
Tình yêu ai nỡ tráo sang bạn bè ?

Tưởng là hạnh phúc... ai dè...
Trách chàng nông nổi đi nghe lời Kiều !


                                                             
                                                              

HẠT BỤI LÃNG DU 
            Gửi C.H


Em đang ở phương nào, hỡi hạt bụi lãng du ?
Đêm Ngự Bình ai ru trong gió thoảng ?
Ai lẳng lặng quay trở về dĩ vãng ?
Dã thảo, tường rêu còn in bóng một người...


Khúc du ca chẳng ai hát nữa rồi
Công viên đá trơ lì cùng mưa nắng
Con đò nhỏ nép mình nơi bến vắng
Điệu Nam ai thổn thức Phu Văn Lâu...


Hỡi hạt bụi lãng du, đang lưu lạc nơi đâu ?
Hãy trở về nghe em, Cố đô đang ngóng đợi
Em biết không, gốc sứ già Đại Nội
Bao năm trời vẫn mỏi mắt chờ mong  !
   


 TỰ VẤN       
   
         " Thương thay thân phận con rùa
       Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia"


Ta là người có công
Hay là người có tội ?
Ai oán hận ta không ?
Đêm đêm ta tự hỏi


Công ta, ai cũng biết
Tội ta, mấy ai hay
Lương tâm ta cắn rứt
Từ bấy cho đến nay


Chỉ một lời lỡ nói
Chẳng suy xét trước sau
An Dương Vương nổi giận
Chém rơi đầu Mỵ Châu


Máu tươi ròng ròng chảy
Dẫu có thành ngọc trai
Những lời ta buộc tội
Ngàn năm còn oan sai !


Có phải vì thế chăng
Ta bị trời trừng phạt
Lên đình thì đội hạc
Xuống chùa thì đội bia ?


         Mai Văn Hoan            

                  


CÓ MỘT DÒNG SÔNG

THƠ — Viết bởi maivanhoan @ 22:56

CÓ MỘT DÒNG SÔNG



Có một dòng sông thơ ấu
Nước xanh in bóng con đò
Hồn tôi vẫn thường neo đậu
Mỗi khi sóng lớn, gió to


Có một dòng sông rực nắng
Nước xanh in bóng cánh buồm
Cánh buồm ước mơ đỏ thắm
Đưa tôi xuống biển, lên nguồn...


Có một dòng sông mờ tím
Nước xanh in bóng mẹ nghèo
Ánh mắt dịu hiền của mẹ
Lặng nhìn những đứa con yêu


Có một dòng sông huyền ảo
Nước xanh in bóng trăng sao
Thả mình trên dòng sông ấy
Như bơi giữa dòng ca dao !


                 Mai Văn Hoan           


ĐỌC “VẠN LÝ TRƯỜNG SƠN” CỦA NGUYỄN HỮU QUÝ

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 23:49

      ĐỌC "VẠN LÝ TRƯỜNG SƠN" CỦA NGUYỄN HỮU QUÝ

        
         Không hiểu sao những năm gần đây bỗng rộ lên phong trào viết trường ca. Riêng những bạn bè làm thơ mà tôi quen biết có đến sáu bảy người đã và đang viết trường ca. Điều này làm tôi nhớ  những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, một loạt trường ca ra đời ghi lại dấu ấn của một thời oanh liệt. Có thể kể : Nguyễn Khoa Điềm với  Mặt đường khát vọng, Thu Bồn với Bài ca chim Chrao, Hữu Thỉnh với Đường tới thành phố, Thanh Thảo với Những người đi tới biển... Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào thật công phu, nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện để rút ra những đặc điểm, những cái được và chưa được của trường ca đương đại Việt Nam. Dưới đây chỉ là một vài nhận xét nhỏ của tôi về bản trường ca Vạn lý Trường Sơn của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý (NXB Quân đội Nhân dân ấn hành tháng 4 - 2009). (Xem tiếp)

GIẾNG LÀNG

BÀI CỦA BẠN — Viết bởi maivanhoan @ 09:06

      GIẾNG LÀNG


Về quê tìm lại giếng làng
Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân
Bao phen trời đất xoay vần
Làng xưa, xóm cũ mấy lần đổi thay
Nép sau vườn, dưới vòm cây
Lòng băn khoăn có phải đây giếng làng ?

Hỡi người duyên số dở dang
Nhớ chăng đêm ấy, trăng vàng chung soi ?
Lỡ tay thương chiếc gàu rơi
Làm xao lòng giếng một thời vụng yêu ...

Giếng làng thuở ấy trong veo
Chia khắp thiên hạ : giàu, nghèo, hèn, sang ...
Gái làng tắm nước giếng làng
Tóc càng óng mượt, da càng mịn thơm

Bây giờ nước có đầy hơn
Chạnh buồn tên giếng không còn từ lâu
Bâng khuâng cầm lại dây gàu
Buông tay nhè nhẹ ... sợ đau ... giếng làng !


              
                    Mai Văn Hoan


LẠI NÓI THÊM VỚI ANH HOÀNG THÁI SƠN

PHÊ BÌNH TIỂU LUẬN — Viết bởi maivanhoan @ 20:29

     LẠI NÓI THÊM VỚI ANH HOÀNG THÁI SƠN

    
  Đọc bài của Hoàng Thái Sơn trên Vanvn.net và bây giờ in lại trên tạp chí Thơ số tháng 4 năm 2009, tôi không hề bất ngờ. Điều làm tôi hơi ngạc nhiên là bài in trên tạp chí Thơ lần này đã có một số thay đổi, sửa chữa đáng kể. Tôi  không biết những thay đổi sửa chữa ấy là của tác giả hay  của Ban biên tập? Nếu là của tác giả thì chứng tỏ anh HTS đã phần nào nhận ra sự hợm hĩnh, trịch thượng quá đáng của mình.
  (Xem tiếp)

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12  Sau»

Powered by vnWeblogs