Tương giao giác quan trong thơ một thần đồng

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

 

Tương giao giác quan trong thơ một thần đồng

QĐND - Trong cuộc sống hằng ngày người Việt chúng ta đôi khi có một số cách nói rất… “ngược đời”: Nghe vốn là chức năng của thính giác ngửi là chức năng của khứu giác nhưng đôi khi người ta vẫn nói: “Nghe mùi thơm của nước hoa” hay “nghe mùi nằng nặng của đồng tiền”… Thấy vốn là chức năng của thị giác nếm vốn là chức năng của vị giác nhưng đôi khi người ta vẫn nói: “Thấy cay cay nơi khóe mắt” hay “Thấy chua chua đầu lưỡi”… Đó là hiện tượng tương giao giác quan trong ngôn ngữ đời thường và các nhà thơ đã vận dụng cách nói ấy để sáng tạo nên những câu thơ những hình ảnh hết sức độc đáo ấn tượng.

More...

Sự lắng lại của một tâm hồn

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Sự lắng lại của một tâm hồn
Bài viết được đăng lúc 2:25:17 PM 01.04.2011
alt
Nhà thơ Xuân Hoàng - Ảnh: nld.com.vn

MAI VĂN HOAN

(Nhân đọc “Quãng cách lặng im” của Xuân Hoàng)



Vốn duyên nợ với thơ tôi đã đọc Xuân Hoàng từ những năm còn ngồi trên ghế nhà trường. Hồi đó tôi mến thơ anh vì một lẽ hết sức giản dị: Thơ anh nói đến những gì gần gũi thân thiết đối với tôi. Tôi bồi hồi với những vần thơ anh viết về sông Gianh - con sông chảy ngang qua làng nhỏ quê tôi. Anh nói đến Lèn Bảng - Hòn Lèn chiều chiều tôi thường nhìn ngắm. Tôi chưa nhận thức được một cách rõ ràng như bây giờ nhưng những câu thơ ấy cứ đi vào tâm hồn tôi một cách tự nhiên như lời ru lắng vào tâm hồn thơ trẻ. Từ đó tôi chăm chú theo dõi thơ anh. Tôi đã đọc “Biển và bờ” “Dải đất vùng trời” “Về một mùa gió thổi”… và bây giờ là: “Quãng cách lặng im”! Biết nói thế nào về tập thơ đã gây cho tôi nhiều xúc cảm này? Mỗi người có một cách cảm nhận. Riêng tôi điều làm cho tôi trân trọng “Quãng cách lặng im” chính là sự lắng lại của một tâm hồn thơ vốn rất say sưa sôi nổi. So với các tập thơ trước của anh tập thơ này có phần phong phú và đa dạng hơn. Mới đọc lướt qua tưởng như không có gì mới mẻ. Tất cả thơ anh đều thể hiện tình yêu của anh đối với cuộc sống đối với con người đối với nhân dân đất nước… Những đề tài quen thuộc ấy qua mỗi bước đi của lịch sử qua từng chặng đường đời của từng tác giả lại luôn luôn mới với những sắc thái riêng. Tình yêu ấy ở “Quãng cách lặng im” là tình yêu của một con người đã dâng hiến cả đời mình cho cách mạng cho thơ ca; là tình yêu của con người đã đi qua những tháng năm bom đạn đã nếm đủ vị chua ngọt đã chứng kiến bao nhiêu biến cố lớn lao:

More...

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

 

Một vài đặc điểm nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn
[28.03.2011 23:35]
Xem hình
 

Có người cho rằng Trịnh Công Sơn là một nhà thơ lớn. Nhạc chỉ là “chiếc xe tải” chở thơ anh đến với mọi người. Thực tế rất khó lòng tách bạch giữa thơ và nhạc trong những ca khúc của anh. Nhạc và thơ hoà quyện vào nhau nương tựa vào nhau tạo nên những nhạc phẩm đã và sẽ làm say mê hàng triệu triệu trái tim qua bao thế hệ. Trong đó phải nói phần ca từ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đã có khá nhiều bài viết về ca từ Trịnh Công Sơn. Ở đây tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về cách ghép từ nhịp điệu gieo vần và biện pháp so sánh trong phạm vi những ca khúc viết về tình yêu của Trịnh.
 

     

Trong số 600 ca khúc mà Trịnh Công Sơn để lại có hơn 400 ca khúc là nhạc tình. Ca từ của Trịnh Công Sơn lời đẹp ý sâu âm điệu nhẹ nhàng êm ái. Anh viết lời một cách dễ dàng tự nhiên “như lấy chữ từ trong túi ra” (cách nói của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát). Tôi cứ tưởng tượng Trịnh Công Sơn viết nhạc không khác gì Nguyễn Bính làm thơ. Đây là những tài năng thiên phú. Những người như thế phong cách hình thành rất sớm và nó chi phối gần như suốt cả cuộc đời sáng tác của họ. Thực ra số lượng từ mà Trịnh Công Sơn sử dụng không lớn và có một số  từ được anh dùng đi dùng lại khá nhiều lần. Các nhà thơ thời nhà Đường (Trung Quốc) cũng như vậy chỉ với một số lượng từ lặp đi lặp lại mà biến hoá khôn lường. Trịnh Công Sơn có những cách ghép từ rất lạ như: tuổi đá buồn hạ trắng con tim mù loà chợt hồn xanh buốt... Kiểu ghép từ mới lạ này đã góp phần làm nên phong cách riêng của anh.

More...

THẦY HIẾN DỊCH VÀ GIẢNG THƠ MAI-A

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

 

                         THẦY HIẾN DỊCH VÀ GIẢNG THƠ MAI-A

      

       Thời còn là sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Vinh (1967 - 1971) chúng tôi thường gọi thầy Hoàng Ngọc Hiến là thầy Hiến. Đó là cách gọi thân mật của những học sinh vùng quê miền Trung đối với những thầy giáo trường làng. Lên đại học chúng tôi vẫn giữ nguyên thói quen ấy. Vào năm học thứ nhất chúng tôi đã nghe danh thầy. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoa Văn trường Vinh thời ấy chỉ duy nhất thầy là Phó tiến sĩ. Chúng tôi chờ đến dài cổ mãi đến năm thứ ba mới được nghe thầy giảng Văn học Nga Xô- viết và thơ Mai-a (Mai-a-cốp-xki).


        Vốn là người yêu thơ và say mê thơ từ nhỏ nên nghe thầy Hoàng Ngọc Hiến giảng thơ Mai-a tôi như nuốt lấy từng lời. Không  sôi nổi như thầy Nguyễn Khắc Phi không khoan thai đĩnh đạc như thầy Phùng Văn Tửu không nhỏ nhẹ cuốn hút như thầy Hoàng Tiến Tựu không hùng hồn như thầy Trần Duy Châu... thầy Hiến giảng chậm rãi giọng hơi khàn nhưng mỗi từ mỗi ngữ. mỗi câu thầy mà nói ra tôi có cảm tưởng là đã được thầy nghiền ngẫm khá kĩ lưỡng. Dịch và giảng thơ Mai-a không dễ. Thầy Hoàng Ngọc Hiến là người Việt Nam đầu tiên dịch tương đối trọn vẹn những tác phẩm chính của nhà thơ Mai-a từ nguyên bản tiếng Nga ra tiếng Việt. Sau này đọc những dòng tâm sự của thầy tôi mới biết thầy bắt tay vào việc dịch thơ Mai-a ngay từ khi đang học ở Liên-xô (cũ). Theo thầy Mai-a dùng nhiều ước lệ và những luật chơi của nghệ thuật thơ ca nên dịch rất khó. Thầy phải nhờ những người bạn Nga tận tình giúp đỡ mới dịch được một cách tương đối thanh thoát. Khi giảng cho chúng tôi thầy chủ yếu trích dẫn những bài thơ thầy dịch. Ấn tượng nhất là tiết giảng về trường ca Lê-nin. Lê-nin từng nói là không thích thơ Mai-a. Mai-a cũng biết điều đó nhưng khi Lê-nin mất không có nhà thơ nào viết về Lê-nin xúc động như Mai-a. Nhà thơ mở đầu bản Trường ca:

Thời gian !

Tôi bất đầu kể chuyện Lê-nin

        Và thầy giảng giải: Sở dĩ Mai-a chọn thời gian để kể chuyện Lê-nin vì thời gian là vĩnh cửu. Chuyện của người bất tử chỉ có thời gian là người lưu giữ lâu dài nhất bảo đảm nhất chắc chắn nhất.  Rồi thầy đột ngột liên hệ  trường ca Theo chân Bác của nhà thơ Tố Hữu vừa mới đăng trên báo Văn nghệ năm ấy (1970). Trong bản trường ca Theo chân Bác Tố Hữu cũng mở đầu:

Tháng năm ơi có thể nào quên.

Hàng bóng cờ tang thắt dải đen...

       Tố Hữu cũng đang kể chuyện Bác Hồ với thời gian. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên của hai nhà thơ lớn. Cả hai nhà thơ đều ca ngợi tầm nhìn xa rộng của hai vị lãnh tụ:

Người nhìn bao trùm lên toàn trái đất

Thấy nhiều điều sau lớp lớp thời gian

                                                               (Mai-a)

Ai hay ngọn lửa trong hang núi
Mà sáng muôn lòng vạn kiếp sau!

                                                                (Tố Hữu)

       Nhưng  Tố Hữu không thể viết như Mai-a: Những kẻ nào thần thánh hóa Lê-nin thì "trên nóc Kremlinh tôi ném bom đả đảo". Bởi vì "kỷ nguyên bước vào đi qua khung cửa / bình thường thôi đầu không chạm xà trên" và "nhược điểm thường tình tôi vẫn thấy ở Người"... Đó là chỗ khác nhau cơ bản của hai nhà thơ. Nhận xét này của thầy khiến tôi nhớ mãi. Khi giảng về đoạn Mai-a tả đám tang Lê-nin thầy chỉ xoay quanh phân tích "môi- trường- nước". Đó là nước mắt của các cụ già. Đó là cảnh tuyết rơi dày đặc... Và thầy liên hệ "môi- trường- nước" trong bài thơ Bác ơi của Tố Hữu:

                    Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

                    Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa...

       Giảng tổng quan về  Mai-a thầy Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh cho chúng tôi tính chiến đấu và ý nghĩa xã hội vô cùng sắc bén của thơ ông. Thầy đơn cử hai bài mà thầy hết sức tâm đắc. Hai bài đó là Tài liệu phổ thông cho những người học nịnh và Những người loạn họp. Với Những người loạn họp thầy đã chuyển hóa khá tài tình chất hóm hỉnh của Mai-a sang thơ Việt khiến cho chúng tôi khi nghe thầy đọc không nhịn được cười. Đặc biệt là đoạn cuối:

Tôi xông đến hội trường
Và tôi thấy
Toàn nửa người ngồi đấy
Những nửa người kia đâu?
Ôi ma quái!
"Chém người!"
"Giết người!"
Tôi hô hoán cuống cuồng
Tôi rụng rời trước cảnh tượng kinh hồn
Nhưng tiếng ai
Nghe vô cùng bình thản:
"Một ngày
Chúng tôi
Họp hai chục bận
Họ phải đi hai cuộc họp một lần
Biết tính sao đành cắt đôi thân
Ở đây một nửa tới ngang hông
Còn nửa kia
Đi họp hành nơi khác

        Trong đời đi dạy tôi từng tham dự đủ các cuộc họp: họp hội đồng họp tổ chuyên môn họp công đoàn họp chi đoàn họp phụ huynh họp hội Chữ thập đỏ... trong đó có không ít cuộc họp vô bổ.  Cách đây vài năm trong chuyến đi thực tế ở huyện Tuyên Hóa Quảng Bình đã 8 giờ đêm tôi với hai nhà thơ Hoàng Vũ Thuật và Hải Kỳ tìm thăm một người bạn. Đến nơi thì anh ta thông cảm là đang bận họp. Hiện nay cái bệnh loạn họp có phần đỡ hơn. Nhưng hễ có những cuộc họp vô bổ trùng nhau là tôi lại nhớ thơ Mai-a: "biết tính sao   đành cắt đôi thân ở đây một nửa tới ngang hông còn nửa kia đi họp hành nơi khác...".

         Mặc dù đề cao thơ tuyên truyền chính trị của Mai-a nhưng ngay thời ấy thầy Hoàng Ngọc Hiến khẳng định với chúng tôi: Mảng thơ tình của Mai-a là mảng thơ vô cùng quan trọng không thể bỏ qua. Mai-a định nghĩa về tình yêu không giống bất kỳ ai: "Yêu nghĩa là chạy thốc vào sân / Vung búa rìu giang ta bổ củi...". Mai-a "tự kiêu" cũng hết sức đáng yêu:

Ở nước Nga tôi vào loại trứ danh

Tôi đã thấy những cô nàng khá xinh

Tôi đã gặp những cô nàng kiều diễm

Với nhà thơ con gái dễ cảm tình

Tôi lại láu giọng của tôi khá tốt

Tôi mà bỏ bùa thì theo tôi tuôt!

         Cánh làm thơ bạn tôi: Hoàng Vũ Thuật Hải Kỳ Ngô Minh Đỗ Hoàng... rất khoái những câu thơ này của Mai-a.

       Một hôm lớp chúng tôi ngồi chờ thầy đã hơn 15 phút nhưng không thấy thầy Hiến tới. Cả lớp đoán non đoán già: Chắc là thầy bị ốm? Thế là lớp trưởng tìm đến nhà trọ của thầy xem thực hư. Hóa ra là thầy đi lạc! Hồi đó sơ tán lớp nằm rải rác trong xóm xóm rất nhiều ngõ ngõ nào cũng hao hao giống nhau mà thầy lại nổi tiếng đãng trí. Năm thứ tư chúng tôi được ưu tiên ăn chung một "bếp" với các thầy. Thầy Hiến đùa vui: "Thầy trò mình đều là những người cùng khổ". Ý thầy nói thầy trò cùng chung những bữa ăn đạm bạc trong thời buổi kinh tế  khó khăn. Hồi đó thầy hay mặc chiếc áo măng-tô-san màu "cháo lòng" nhưng phong thái hết sức ung dung đĩnh đạc.

        Cách đây mấy năm tôi có gặp lại thầy ở thành phố Đà Nẵng dịp thầy vào dự hội thảo Đổi mới giảng dạy Văn học hiện đại Việt Nam. Biết tôi ở Huế thầy hỏi bệnh tình của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi kể chuyện nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đang được một một bà lang khá  đẹp ở Khe Sanh chữa trị bằng nghệ thuật xoa bóp. Thầy cười: "Nếu được người đẹp xoa bóp thì mình cũng muốn ngả bệnh như Hoàng Phủ".

       

         Đã mấy chục năm nay chúng tôi - những cựu sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Vinh luôn dõi theo hành trình của thầy Hoàng Ngọc Hiến. Chúng tôi rất khâm phục và tự hào về thầy   về những đóng góp hết sức quan trọng của thầy trong việc thúc đẩy sự đổi mới của văn học nước nhà trong việc phát hiện và đào tạo những tài năng trẻ trong việc tìm tòi nghiên cứu về minh triết và minh triết Việt. Thầy mất đi là một tổn thất lớn cho nền văn học và minh triết nước nhà.



                                                                                    Mai Văn Hoan

More...

Quan niệm về thơ của Hàn Mặc Tử

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Quan niệm về thơ của Hàn Mặc Tử
Bài viết được đăng lúc 9:59:52 AM 01.12.2010

Hàn Mặc Tử và những người tình trong thơ - Ảnh: Internet

MAI VĂN HOAN
Kỷ niệm 70 năm ngày mất Hàn Mặc Tử (11/11/1940 - 11/11/2010)

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí sinh năm 1912 mất năm 1940.
Quê Lệ Mỹ Đồng Hới Quảng Bình. Tổ tiên họ Phạm ông cố Phạm Nhương ông nội Phạm Bồi vì liên can quốc sự trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn. Cha là Nguyễn Văn Toản mẹ là Nguyễn Thị Duy.


Thuở nhỏ học ở Quãng Ngãi khi cha chết mẹ dọn về Qui Nhơn ở đây Hàn Mặc Tử tập làm thơ Đường luật (lúc 16 tuổi) lấy bút hiệu là Minh Duệ Thị. Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba ra Huế học tại trường dòng Pellerin. Hàn Mặc Tử đăng thơ trên báo Phụ Nữ Tân Văn Sài Gòn với bút hiệu Phong Trần. Thời gian này kinh tế gia đình sa sút. Hàn Mặc Tử đi làm Sở Đạc Điền một độ rồi vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936 khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn lấy bút hiệu Hàn Mặc Tử (Rèm Lạnh).

Nhà thơ Quách Tấn góp ý đổi thành Hàn Mặc Tử (Bút mực)
Tập thơ Đường luật mang tên "Lệ Thanh Thi Tập" có 3 bài
Thức Khuya Chùa Hoang Gái Ở Chùa được Phan Sào Nam họa vận lại. Năm 1936 tập thơ Gái Quê xuất bản là bước chuyển hướng sang Thơ Mới.

Cuối năm 1936 Hàn Mặc Tử đi chơi Huế Đà Nẵng Nha Trang Phan Thiết rồi định vào Sài Gòn tiếp tục làm báo thì phát bệnh nên về lại Quy Nhơn.

Cuối năm 1937 gom góp khoảng 50 bài thơ làm trên giường bệnh được Hàn Mặc Tử gọi là
Thơ Điên (gồm 3 phần: Hương Thơm Mật Đắng Máu Cuồng và Hồn Điên) mang chung một nhan đề: Đau Thương. Tiếp đến là Xuân Như Ý (1939) Thượng Thanh Khí (1940). Mùa hạ 1938 thấy bệnh tình khó qua khỏi gia cảnh càng sa sút Hàn Mặc Tử sau nhiều lần do dự đã quyết định vào bệnh viện phong Qui Hòa chữa trị và mất tại đó.
       


Hàn Mặc Tử có một vài lần bàn về thơ và người làm thơ. Theo thi sĩ thì "Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo"; "Tôi làm thơ nghĩa là tôi nhấn một cung đàn bấm một đường tơ rung rinh một làn ánh sáng"; "Nàng đánh tôi đau quá tôi bật ra tiếng khóc tiếng gào tiếng rú. Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi!" (Tựa Thơ điên); "Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt" (Quan niệm về thơ)... Riêng tôi tôi hết sức tâm đắc với câu: Máu đã khô rồi thơ cũng khô trong bài Trút linh hồn.
Hình như linh cảm trước cái chết một số nhà thơ đã soạn sẵn những lời di chúc. Puskin có Đài kỉ niệm Êxênin có bài thơ tuyệt mệnh viết bằng máu... Bài Trút linh hồn nằm trong tập Thơ Điên là một trong những tập thơ hay của Hàn Mặc Tử. Thơ Điên ra đời trong hoàn cảnh thi sĩ lâm vào căn bệnh hiểm nghèo cùng lúc mối tình đang nồng thắm bỗng "chết yểu". Đau thương chồng chất đau thương! Chính trong những tháng ngày bi đát ấy Hàn Mặc Tử dường như đã tiên cảm sự ra đi của mình nên đã viết sẵn những lời trăn trối nhắn gửi với người yêu đồng thời bày tỏ quan niệm về thơ của mình với mọi người.

Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Hàn Mặc Tử khẳng định một chân lí trong lĩnh vực sáng tạo thi ca bằng cách thơ hết sức giản dị. Chân lí ấy được đúc kết vẻn vẹn trong bảy chữ. Tôi đã đọc khá nhiều bài viết trao đổi về thơ gần đây. Ở những bài viết ấy tôi đã học được nhiều điều. Nhưng không hiểu sao tôi cứ ám ảnh bởi cách nói của Hàn Mặc Tử. Thi sĩ không lí luận dài dòng không làm ra vẻ cao siêu uyên bác mà nói một cách thật dễ hiểu thật ấn tượng: Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Có thế thôi nhưng để đúc kết được bảy chữ ấy Hàn Mặc Tử đã trải qua bao tìm tòi suy nghĩ trăn trở. "Máu" ở đây không chỉ là sự sống mà còn là sức sống là nhiệt huyết của người làm thơ đối với cuộc đời. Khi người làm thơ không còn nhiệt huyết nữa có nghĩa là anh ta nên gác bút. Vì nếu có gắng gượng viết thì cũng chỉ "đẻ" ra những xác chữ khô cứng mà thôi. Chữ có thể "bầu lên nhà thơ" khi chữ đó đã thấm qua "máu" chứ không phải là thứ chữ được chế tác bằng một trái tim nguội lạnh. Nếu chữ chỉ được chế tác bằng một trái tim nguội lạnh thì chẳng qua đó là mớ chữ vô hồn. "Máu" đúc nên chữ rồi chữ tạo ra thơ. Tất nhiên đã là nhà thơ đúng nghĩa thì không thể coi thường chữ nghĩa.
Hàn Mặc Tử nói: "Nàng đánh tôi đau quá tôi bật ra tiếng khóc tiếng gào tiếng rú". Điều đó có nghĩa là thơ phải xuất phát từ những cảm xúc chân thật. Cái dễ nhận nhất là sự giả tạo trong thơ. Có người chẳng đau đớn gì nhưng thấy thiên hạ rên mình cũng la oai oái. Những tiếng kêu giả khóc vờ ấy khó lòng qua mắt những độc giả tinh tường. Trong quá trình sáng tạo nhà thơ có thể bịa ra có thể tưởng tượng ra nhiều thứ. Nhưng phải bịa phải tưởng tượng trên cơ sở tình cảm chân thực. Lúc đó bịa tưởng tượng mới "như thật" và còn hơn "như thật" về mặt giá trị thẩm mỹ. Trong bài Trút linh hồn Hàn Mặc Tử viết: Ta trút linh hồn giữa lúc đây đó là điều thi sĩ tưởng tượng ra. Bởi sự thật thì mãi khi vào nhà thương Quy Hòa đúng ngày 11 tháng 11 năm 1940 Hàn Mặc Tử mới "trút linh hồn"... Thế nhưng người đọc vẫn tin sự tưởng tượng ấy là chân thực.

Phan Thiết! Phan Thiết! nhà thơ thả trí tưởng tượng bay bổng lên "chín tầng trời":
Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất
Và lùa theo không biết mấy là hương
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chặn đường
Chạm vào nhạc va nhằm thơ thiên cổ
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ
Sao tan thành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ... 

Cả bài thơ là tiếng rên "xuất phát từ bề sâu của một linh hồn tuyệt vọng" (Hoàng Diệp). Vì thế nó hết sức chân thực. Nỗi đau đớn trước mối tình "chết yểu" với Mộng Cầm đã khiến cho thi sĩ như điên như dại:

Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
...
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đưa tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi giọt lệ châu
                                                     (Những giọt lệ)

Và:
Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm
Nhớ thương còn một nắm xương thôi
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan.
                                          (Muôn năm sầu thảm)

Hàn Mặc Tử hết sức trân trọng thơ của Mai Đình chủ yếu cũng vì cảm xúc chân thực của nàng:
Thơ em cũng giống lòng em vậy
Là nghĩa thơm tho như ánh trăng
Mềm mại như lời tơ liễu rủ
Âm thầm trong áng gió băn khoăn.

Bởi thế mà thi sĩ:
Anh đã ngâm và đã thuộc làu
Cả người rung động bởi thương đau
Bởi vì mê mẩn vì khoan khoái
Anh cắn lời thơ để máu trào.
                                                    (Lưu Luyến)

Nguyễn Du tả tiếng đàn nàng Kiều trong bữa tiệc "mừng công" khi Hồ Tôn Hiến vừa giết Từ Hải: Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay. Máu nhỏ năm đầu ngón tay là Nguyễn Du tưởng tưởng ra nhưng rất chân thật vì Nguyễn Du đã nói được nỗi đau đớn tột đỉnh của nàng Kiều. Hàn Mặc Tử làm thơ bằng máu huyết của mình:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da.
                                          (Rướm máu)

Cả niềm yêu ý nhớ cả một vùng
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn
                    (Trường tương tư)

Nên hơn ai hết thi sĩ hiểu một cách sâu sắc rằng: Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Chân lí này không phải được đúc kết qua sách vở mà qua thực tế sáng tác của chính nhà thơ. Trái tim Hàn Mặc Tử chưa bao giờ lãnh cảm trước cuộc đời. Ngay đến giây phút sắp "trút linh hồn" thi sĩ vẫn yêu cuộc đời đến day dứt. Mặc dù cuộc đời đã đem đến cho Tử bao mùi vị cay đắng. Nói như ca dao:

Thương mình lắm lắm nhiều nhiều
Còn mình thương lại bao nhiêu mặc lòng.

Cuộc đời có cay nghiệt với Hàn Mặc Tử đến mấy thi sĩ vẫn cứ trìu mến vẫn cứ vấn vương vẫn cứ luyến tiếc:

Ta còn trìu mến biết bao người
Vẻ đẹp xa hoa của một thời
Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng
Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi!
                                                  
(Trút linh hồn)

Phải hiểu cảnh ngộ số phận của Hàn Mặc Tử ta mới thấy hết sự "trìu mến" ấy của thi sĩ đáng trân trọng biết chừng nào!

Và đây là lời nhắn gửi cuối cùng của thi sĩ:
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây.
Còn em sao chẳng hay gì cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày.
                                                  (Trút linh hồn)

Có bản chép Gió sầu vô hạn thổi trong cây là vô tình làm tổn hại thơ Hàn Mặc Tử. Gió sầu vô hạn thổi trong cây thì bình thường quá. Câu thơ đã bị tước mất sự sống. Gió sầu vô hạn nuối trong cây mới thể hiện được nuối tiếc hết sức đau đớn của nhà thơ trước giây phút từ giã cõi đời. Phải thật tâm huyết với cuộc đời này thi sĩ mới viết được những câu thơ gan ruột như vậy. Đúng là "Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt"!

Mấy năm lại đây chúng ta bàn nhiều về sự đổi mới của thơ. Cuộc sống thay đổi tất yếu thơ cũng phải thay đổi. Nhưng dù đổi mới thế nào đi nữa thì người làm thơ cũng phải có nhiệt huyết. Phải yêu ghét một cách chân thật. Nếu không có nhiệt huyết nếu sống một cách hời hợt giả dối thì nói như Hàn Mặc Tử: Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Tôi cho đó là một quan niệm hết sức đúng đắn và sâu sắc mà những người làm thơ cần phải ghi nhớ.

M.V.H

(262/12-10)

Nguồn: Tạp chí Sông Hương

More...

Riêng và chung trong thơ tình hiện đại

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Riêng và chung trong thơ tình hiện đại (1945-1975)
Bài viết được đăng lúc 3:01:15 PM 22.10.2010
Nhà thơ Mai Văn Hoan - Ảnh: truongquochochue.com
MAI VĂN HOAN

Theo thần thoại Hy Lạp vị thần đầu tiên xuất hiện trên thế gian là thần Ái tình. Thần Ái tình là một đứa bé có cánh với cây cung bên người ngọn đuốc cầm tay mang tình yêu đến với những trái tim. Tình yêu - nguồn đề tài không bao giờ cạn của văn học nói chung và thơ ca nói riêng.

Ở nước ta trong các tuyển tập thơ sau cách mạng đều có mặt những bài thơ tình. Những bài thơ ấy ngoài sự kết hợp nhuần nhuyễn nội dung và hình thức hiện thực và lãng mạn tình cảm và lý trí... còn có sự kết hợp hài hòa cái chung và cái riêng. Khảo sát mối quan hệ riêng chung bộ phận thơ tình 1945-1975 có thể rút ra được nhiều điều bổ ích. Qua việc khảo sát này phần nào giúp chúng ta hiểu thêm nguyên nhân thành công của những bài thơ tình được đông đảo bạn đọc ưa thích góp phần giúp chúng ta xác nhận thêm sự phát triển của nền thơ sau cách mạng và giúp chúng ta khẳng định vị trí những đóng góp quan trọng của bộ phận thơ tình đối với sự nghiệp cách mạng mà lâu nay chưa được chú ý nghiên cứu đánh giá đúng mức.

Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng nhưng cũng là một dân tộc "vừa nhân hậu lại đa tình đa mang" (Lâm Thị Mỹ Dạ). Trải qua bao nhiêu thế kỷ mặc cho sự cấm đoán của giai cấp thống trị phong kiến tiếng nói trái tim vẫn cất lên trong hàng nghìn bài ca dao với đủ mọi cung bậc: vui buồn sung sướng đau khổ nhớ thương hờn giận...

"Đôi ta xa nhau thiên hạ cũng đều buồn
Bốn phương trời chuyển động tám ngọn nguồn rung rinh
"

Đến giữa thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX khi ý thức về cá nhân đã được nâng lên trong văn học viết đề tài tình yêu mới được khởi sắc như những đóa hoa xuân. Nguyễn Du Phạm Thái là hai thi sĩ rất có công mạnh dạn thể hiện đề tài này. Tiếp theo những nguồn mạch trong mát ấy từ sau cách mạng 1945 bộ phận thơ tình trong nền văn học chân chính của chúng ta càng ngày càng trở nên phong phú đa dạng góp phần không nhỏ vào việc thể hiện tâm hồn con người Việt Nam vào những năm tháng đầy những biến cố lịch sử. Cái "tôi" của thơ tình sau cách mạng càng ngày càng vươn tới để hòa vào trong cái "ta" chung của mọi người của giai cấp của dân tộc của thời đại.

Ở những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chúng ta rất khó tìm thấy những bài thơ tình. Các nhà thơ lãng mạn có tên tuổi đi kháng chiến đang rất lúng túng "Cái phần công dân trong con người họ còn đứng tách riêng ra tụt lại sau nhìn ngắm tìm tòi" (Chế Lan Viên). Cái riêng còn bị "gạt phăng" còn bị xem là đối lập cản trở cái chung. Những người cầm bút chưa phân biệt thật rạch ròi những tình cảm chính đáng với những "tính riêng" cá nhân ích kỷ. Năm 1948 Nguyễn Đình Thi có bài "Không nói". Bài thơ kết thúc trong khung cảnh:

"Mưa rơi ướt mái đầu
Mỗi đứa một khăn gói
...
Nào đồng chí - bắt tay!
Em
            Bóng nhỏ
                        Đường lầy...
"

Chia tay anh vẫn gọi người yêu là "đồng chí". Tiếng "em" anh vẫn cố giấu kín trong lòng và chỉ khẽ gọi với theo khi bóng dáng người yêu dần khuất. Phải mấy năm sau Vũ Cao mới không ngần ngại đặt "em" ngang với "đồng chí": "Nhớ nhau anh gọi: em - đồng chí" (Núi đôi). Để được một câu thơ ta đọc cứ ngỡ rất bình thường như thế những người cầm bút phải tự vượt lên mình qua bao tìm tòi băn khoăn trăn trở. Hoàn cảnh khốc liệt của cuộc kháng chiến trong thời kỳ đầu dễ khiến người ta nén lòng mình lại. Cái riêng lúc này muốn hòa được vào cái chung đòi hỏi cần phải có thời gian đòi hỏi nhận thức phải được nâng lên để có thể so sánh mà không còn sợ ai bắt bẻ: "Anh yêu em như yêu đất nước"... ("Nhớ" - Nguyễn Đình Thi).

Sau khi hòa bình lập lại bước vào giai đoạn đấu tranh thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội thơ tình đã rút ngắn được tình trạng chệch choạc về sự hòa hợp riêng chung ở giai đoạn trước. Vào những năm 1956-1957 chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều bài thơ tình. Đáng chú ý nhất có lẽ là bài "Đêm sao sáng" của Nguyễn Bính. Nét quí ở bài thơ này là sự hòa hợp riêng chung nhuần nhuyễn đến mức khó lòng phân biệt nó với những bài thơ tình thuần khiết viết về nỗi nhớ tình yêu mà người đọc vẫn nhận ra bài thơ gắn rất chặt với công cuộc đấu tranh thống nhất:

"Sao đặc trời sao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em
."

Từ 1957 đến 1965 Huy Cận Xuân Diệu Chế Lan Viên Tế hanh... lần lượt công bố những "chùm nhỏ thơ yêu". Ngày trước Huy Cận ngắm người yêu ngủ và ru lời ru nghe buồn não nuột "Hồn anh đã chín mấy mùa thương đau". Giờ đây nhà thơ lại vẫn ngắm người yêu ngủ và ru lời ru không còn "ngậm ngùi" nữa mà ấm áp hơi thở của một người đang yêu cảm thấy tình yêu của mình gắn với tình yêu của mọi người: "Hai ta đôi hát giữa nghìn đôi" (Bài thơ anh viết). Ngày trước Chế Lan Viên chán nản đến mức muốn nhặt hết "hoa thơm muôn cánh rã" để "về đây đem chắn nẻo xuân sang". Giờ đây anh dí dỏm tuyên bố:

"Mặc kệ lời Phật dạy
Miếng tình ta cứ ăn
"
            (Đi trong hương chùa Hương)

Ngày trước Xuân Diệu yêu "vội vàng" bởi hoảng hốt trước thời gian trôi đi quá nhanh và tuổi già đến quá sớm. Giờ đây nhà thơ vẫn yêu say đắm nồng nàn nhưng không còn "vội vàng" nữa:

"Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
"
                        (Biển)

Đó là chưa kể "Chiêm bao" "Rét nàng bân" "Bài thơ tình Hàng Châu" của Tế Hanh; chưa kể những bài thơ "vượt tuyến" làm xôn xao cả nước của Giang Nam Thanh Hải của đồng bào Hơ-rê... như "Nhớ nhiều ơ nhớ lắm" "Quê hương"...

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thơ tình nói riêng và thơ nói chung lại tiến thêm một bước mới. Lúc này hơn lúc nào hết trách nhiệm công dân và say mê cá nhân để hòa chung làm một. Cái riêng và cái chung kết hợp một cách máu thịt. Người cầm bút có thể nói hết cái "tôi" riêng. Viết về buổi tiễn đưa nhà thơ không cần phải dấu những giọt nước mắt viết về nỗi nhớ tình yêu nhà thơ khai thác hết mọi khía cạnh. Người viết không còn né tránh khi nói đến đau thương mất mát. Ở "Quê hương" dù sao Giang Nam vẫn còn dè dặt đến "Bài thơ về hạnh phúc" Dương Hương Ly đã không e ngại khi viết "anh mất em như mất nửa cuộc đời" "như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc".

Phải chăng vì đã có một thời người ta khóc lóc quá nhiều trong các buổi tiễn đưa "những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt" nên thơ ca sau cách mạng khi cần diễn tả những xúc động trong các buổi tiễn đưa người viết thường dấu đi những giọt nước mắt? Lần đầu tiên trong thơ ca cách mạng có nước mắt của người vợ tiễn đưa chồng:

"Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
không dấu nỗi tình yêu cô rực cháy
không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời
"
                        (Cuộc chia ly màu đỏ)

Ngay từ "chia ly" trước đây người ta cũng tránh dùng Nguyễn Mỹ đã mạnh dạn dùng và dùng rất đúng chỗ nên đã có sức lay động sâu xa. Sự xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ: Nguyễn Khoa Điềm Phạm Tiến Duật Phan Thị Thanh Nhàn Lâm Thị Mỹ Dạ... đã mang đến cho thơ tình chặng đường này một sinh khí mới. Nam nữ thanh niên trân trọng chép vào sổ tay và đọc đến thuộc lòng "Hương thầm" "Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây" "Khoảng trời yêu dấu" "Hương cau"... Xuân Quỳnh là một trong những cây bút trẻ viết khá nhiều thơ tình được bạn đọc ưa thích. Thơ Xuân Quỳnh vừa dào dạt sôi nổi vừa sâu lắng thiết tha:

"Những ngày không gặp nhau
Sóng bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ
."
            (Thuyền và sóng)

Phải thật hiểu giá trị của tình yêu chân chính Xuân Quỳnh mới viết được những câu thơ táo bạo như thế. Người đọc không chỉ cảm nhận ở những câu thơ này cái mãnh liệt của tình yêu hơn thế nữa đó là cái mãnh liệt của tình yêu con người đối với cuộc sống. Những câu thơ này không chỉ làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần mà còn có tác dụng nuôi dưỡng những tình cảm trong sáng. Riêng chung ở đây phải được nhìn dưới góc độ như thế. Nếu chỉ hiểu một cách đơn thuần máy móc sẽ dễ dẫn đến những hành vi những phán quyết thô bạo đối với những bài thơ vô tội này.

Sự hòa hợp riêng chung là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng của tác phẩm văn học. Nhìn lại những bài thơ tình thành công chúng ta nhận thấy rất rõ điều này. Vươn lên để đạt được sự hài hòa cao độ giữa cái chung và cái riêng phải chăng là một trong những hướng phấn đấu của thơ ca cách mạng hiện nay? Công bằng mà nói mặc dù đạt được một số thành tựu thơ tình của chúng ta so với nền thơ chung của thế giới đang còn có khoảng cách. Thơ tình của chúng ta còn thiếu cái chân thành đằm thắm cái dịu dàng tài hoa của thơ tình Puskin; cái phức tạp tinh tế nhiều tầng nhiều lớp của thơ tình Tagor; cái thông minh sắc sảo của thơ tình Gam-da-tốp. Một trong những nguyên nhân làm cho thơ tình chúng ta còn bị hạn chế là do quan niệm về cái chung và cái riêng của chúng ta tuy đã được nâng cao dần tuy đã được mở rộng dần nhưng vẫn còn gò bó. Nói chung thơ tình chúng ta còn để trống nhiều địa hạt nhiều cung bậc tình cảm. Dù sống trong cuộc sống mới không phải lúc nào tình yêu cũng diễn ra một cách bằng phẳng êm ả nhẹ nhàng tròn trịa. Thế nhưng thơ tình chúng ta nhìn chung vẫn còn tròn trịa êm ả nhẹ nhàng. Tình yêu trong xã hội mới không phải không còn những cơn sóng gió không phải không còn những sự phản hội những tính toán ích kỷ nhỏ nhen... Thơ tình chúng ta còn né tránh không dám hoặc không muốn đụng chạm đến những chuyện rắc rối trong tình yêu. Nhiều bài lắp ráp một cách gượng gạo cái chung và cái riêng đến trở thành công thức đơn điệu khuôn mẫu sao chép.

Quá trình hòa hợp riêng chung trong những bài thơ tình không chỉ chịu sự chi phối của biến cố lịch sử tình hình chính trị kinh tế; cơ cấu giai cấp... mà còn chịu sự chi phối của nhận thức chủ quan của tình cảm riêng tư. Thực tế sáng tác đã chứng minh rằng công của những phụ nữ từng làm trái tim các thi nhân rung động để viết nên những bài thơ tình rất lớn. Đọc tiểu sử của Puskin Lécmôntốp Aragông... chúng ta thấy rất rõ điều đó. Song khi tìm hiểu tác giả chúng ta lại rất ít đề cập đến những chuyện tình có thực ấy.

Đã đến lúc chúng ta không chỉ phủ nhận việc đề cao quá mức việc tuyệt đối hóa xem thơ tình là đề tài duy nhất của thơ ca mà chúng ta còn cần phải uốn nắn kịp thời những định kiến hẹp hòi sai lệch đối với nó.

Thơ tình quyết không chỉ là của riêng của bất cứ xã hội nào giai cấp nào thời đại nào mà là của chung nhân loại. Xã hội xã hội chủ nghĩa cũng nên và cần thiết có thơ tình của mình. Chúng ta cần quan tâm hơn nữa đời sống tình cảm của nam nữ thanh niên hiện nay! Sao chúng ta chưa làm tuyển tập chính thức về thơ tình? Sao các nhà thơ chúng ta chưa có một tập thơ nào viết riêng về đề tài tình yêu? Lẽ nào bây giờ vẫn chưa đến lúc? Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất Ximônốp vẫn cho xuất bản tập thơ tình "Bên em và xa em". Nhân dân Xô-viết nhận ra rằng: một tình yêu với nhiều sóng gió nội tâm những dằn vặt những nhớ mong hy vọng lại rất cần cho họ trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trên sách báo Trung ương cũng như địa phương biên tập đã có chú ý gia thêm "một chút thơ tình" song thơ tình chúng ta rõ ràng chưa đáp ứng được nhu cầu công chúng. Tình yêu luôn mới ở mỗi con người mỗi lứa tuổi mỗi thời đại lẽ nào vì người xưa làm nhiều bài thơ tình tuyệt vời rồi thế hệ chúng ta không nên làm thơ tình nữa như một số người quan niệm? Hãy để thơ tình nảy nở một cách tự nhiên đừng nên quá khắt khe với nó. Chống sự xâm nhập của văn hoá nô dịch đồi trụy bằng những biện pháp chính quyền không thôi chưa đủ. Cần phải có món ăn tinh thần thỏa mãn với những đòi hỏi chính đáng của công chúng. Vun trồng được một vườn thơ tình xã hội chủ nghĩa có nhiều "hương sắc" sẽ góp phần làm cho đời sống tâm hồn chúng ta càng thêm phong phú. Sẽ góp phần làm cho cuộc đời chúng ta thêm ý vị sẽ góp phần gạt bỏ dần thói dung tục thô lỗ ích kỷ... trong tình yêu của một số thanh niên hiện nay.

Trong "Người thoáng hiện" Tagor kể chuyện một tu sĩ khổ hạnh cố hành xác mình để mong sớm được lên thiên đường. Anh ta hành xác đến nỗi thần thánh đều kinh ngạc. Không ngờ những năm cuối của cuộc hành xác bỗng một cô hái củi đến và tìm cách hầu hạ anh ta. Khi cuộc hành xác hoàn thành vị chúa tể của những người bất tử báo cho anh ta biết rằng đã đến ngày chuẩn bị lên thiên đường. Người tu sĩ trả lời: đã lâu tôi không còn muốn lên thiên đường nữa. Qua câu chuyện này thi sĩ Ấn Độ muốn khẳng định sức mạnh của tình yêu. Với con người tình yêu là thiên đường nơi trần thế. "Không có gì của con người mà xa lạ với tôi"! Tình yêu là cái vô cùng thân thiết gần gũi của con người lẽ nào lại vắng bóng trong thi ca? Sự có mặt của gần 20 bài thơ tình trong tổng số 186 bài thơ được chọn ở tuyển thơ Việt Nam 1945-1975 của NXB Tác phẩm mới; phần nào chứng minh điều đó.

Tagor viết "Tôi đi tìm con nai vàng. Các bạn cứ cười đi nhưng tôi không vì thế mà kém đeo đuổi nó... Tôi chạy qua đồi qua thung tôi lang bạt trong những xứ lạ tìm con nai vàng" (Người làm vườn tình ái).

Con nai vàng - là đề tài tình yêu mà Tagor đeo đuổi. Thơ ca cách mạng chúng ta chẳng dại gì để sổng mất con nai vàng ấy!

Vinh 1982 Huế 1984
M.V.H
(7/6-84)

nguồn Tạp chí Sông Hương

More...

NGUYỄN TRÃI NHẬP THÂN TRONG "BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

  GIỚI THIỆU
  HỘI VIÊN
  TIN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
  TIN TỨC QUÊ NHÀ
  CÁC DOANH NGHIỆP CHÍ LINH TỰ GIỚI THIỆU
  ĐẤT VÀ NGƯỜI CHÍ LINH
  NGƯỜI CHÍ LINH HÔM NAY
  
  ỔI
  
  
  
  
  
  
NGUYỄN TRÃI NHẬP THÂN TRONG "BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO"
"Bình Ngô đại cáo" được xem là một áng thiên cổ hùng văn và đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây NCL xin giới thiệu với bạn đọc một trong những nghiên cứu ấy.

Nghệ thuật diễn tả nội tâm chỉ có trong tiểu thuyết truyện ngắn thơ trữ tình truyện thơ trường ca... Bình Ngô đại cáo là một bài văn chính luận sao lại bàn đến nghệ thuật diễn tả nội tâm tức là sự hóa thân-nhập thân trong sáng tạo văn học? Lại nữa diễn tả nội tâm chỉ phát triển mạnh trong giai đoạn văn học Việt Nam từ thế kỷ XVI cho đến nay. Những tác phẩm diễn tả nội tâm đặc sắc chỉ có thể kể đến: Chinh phụ ngâm Cung oán ngâm khúc Truyện Kiều v.v..

Theo tôi các tác giả của những tác phẩm trên đây chỉ dừng lại ở việc diễn tả tâm trạng của chính bản thân mình. Chưa có ai trong số họ hóa thân nhập thân để diễn tả tâm trạng của người khác như trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Ông đã nhập thân hóa thân vào Lê Lợi để diễn tả một cách cụ thể sinh động tâm trạng của Lê Lợi trong những ngày đầu dấy nghĩa:

Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không

cùng sống.

Đau lòng nhức óc chốc đã

mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai há phải

một hai sớm tối...

Như chúng ta từng biết: Khi Lê Lợi dấy nghĩa ở Lam Sơn thì Nguyễn Trãi đang bị kẹt ở thành Đông Quan (Thăng Long) mãi mấy năm sau mới vào được Lam Sơn để giúp Lê Lợi. Như vậy là Nguyễn Trãi không được tận mắt chứng kiến thời kỳ khó khăn ban đầu của cuộc khởi nghĩa. Viết về thời kì này chủ yếu Nguyễn Trãi chỉ nghe kể lại mà thôi. Ghi lại những điều nghe kể không khó. Cái khó là làm sao nhập vai vào Lê Lợi để diễn tả được nội tâm của vị anh hùng dân tộc trong buổi đầu dấy nghĩa. Không hóa thân không nhập vai làm sao Nguyễn Trãi có thể diễn tả một cách cụ thể sinh động sâu sắc nội tâm của Lê Lợi đến như vậy? Bao nhiêu giằng xé bao nhiêu day dứt bao nhiêu lo lắng bao nhiêu phẫn uất căm giận... chất chồng. Nào là "ngẫm thù lớn" nào là "căm giặc nước" nào là "đau lòng nhức óc"... Bản dịch của Bùi Văn Nguyên đã phần nào lột tả được tâm trạng Lê Lợi mà Nguyễn Trãi thể hiện trong nguyên tác. Có thể nói Nguyễn Trãi diễn tả tâm trạng Lê Lợi như đang diễn tả tâm trạng của chính mình. Ở đây có sự đồng điệu của hai nhân cách lớn. Bởi vì tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi có khác gì Lê Lợi. Nếu không từng lo lắng băn khoăn trăn trở; nếu không từng "ngẫm thù lớn" như Lê Lợi làm sao Nguyễn Trãi có thể diễn tả một cách thành công như vậy! Phân tích Bình Ngô đại cáo mà bỏ qua nghệ thuật diễn tả nội tâm ở đoạn văn này theo tôi là một thiếu sót hết sức đáng tiếc.

Sự nhập thân hóa thân để diễn tả nội tâm là đóng góp xuất sắc của Nguyễn Trãi trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc. Phải chăng Nguyễn Trãi là người mở đường là người đặt nền móng cho nghệ thuật diễn tả nội tâm thông qua sự nhập thân hóa thân để văn học ta có được những thành tựu rực rỡ sau này qua các tác phẩm của Đặng Trần Côn Nguyễn Gia Thiều Nguyễn Du...? Như vậy ngay cả ở lĩnh vực văn chương Nguyễn Trãi cũng là người đi trước thời đại. Và chúng ta có thêm một bằng chứng sinh động để khẳng định thiên tài của danh nhân Nguyễn Trãi.

MAI VĂN HOAN (Trường Quốc học Huế)

More...

Thơ của một người đạp xích lô ở Huế

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Thơ của một người đạp xích lô ở Huế
Ở Huế nói đến Nguyễn Văn Phương rất ít người biết nhưng Phương Xích Lô thì trong giới văn nghệ sĩ và những người hành nghề đạp xích lô hầu như ai cũng biết. Không chỉ ở Huế mà một số người làm thơ ở Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh Đà Nẵng Quy Nhơn Nha Trang Đà Lạt... cũng biết tiếng anh. Phương từng là "đệ tử" của Bùi Giáng. Lối sống bụi bặm tự nhiên say tỉnh của anh ít nhiều chịu ảnh hưởng thi sĩ họ Bùi.

Ảnh: internet

Bài thơ đầu tiên để người đọc biết đến Phương Xích Lô là bài Gửi bác xích lô Hà Nội do nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chọn đăng ở tạp chí Sông Hương. Bút hiệu Phương Xích Lô cũng do nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và anh chị em trong toà soạn tạp chí Sông Hương thời ấy đặt cho. Rồi tạp chí Cửa Việt (thời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường còn làm Tổng biên tập) chọn in chùm thơ ba bài của Phương có cả ảnh chân dung và lời giới thiệu hết sức trang trọng. Thơ Phương được nhiều người biết đến từ đó. Riêng tôi tôi đặc biệt yêu mến những bài thơ của Phương viết về nghề đạp xích lô. Lúc mới vào Huế nhìn những người gò lưng đạp xích lô trên đường Lê Lợi tôi từng chia sẻ: Thương bác xích lô chở khách / vai áo bạc màu nắng mưa (Bài thơ gửi lại). Nhưng dẫu sao tôi cũng chỉ là người ngoài "thương vay khóc mướn". Phương mới là người trong cuộc viết về mình và đồng nghiệp của mình: Những lúc về khuya còn ai thấy bác / Người phu già lăn bóng dọc đường trăng (Gửi bác xích lô Hà Nội). Một hình ảnh vừa rất hiện thực vừa rất lãng mạn. Chính vì cũng làm "nghề như bác" "cùng đời xích lô dãi nắng dầm sương" nên Phương vừa thông cảm vừa đồng cảm: Có những lúc gác xe vào quán rượu / Mượn Lưu Linh đuổi hết nỗi nhọc nhằn / Rồi đón khách nơi đầu ga cuối chợ / Ngày có ngày không lặng lẽ qua dần... Tất cả những người làm nghề đạp xích lô trên mọi miền đất nước đều tìm thấy hình bóng của mình trong những câu thơ ấy của Phương. Đây là hình ảnh người đạp xích lô Nam Bộ ra tham quan Huế ngồi trên xe  Phương: Đời đã từng trải qua nhiều nỗi khổ / Anh hiểu sâu về những giọt mồ hôi / Khi gặp dốc cao anh liền nhảy xuống / Chia sẻ cùng tôi chút nặng nhọc một thời... Phương có những câu thơ mà giới xích lô rất khoái bởi cái cách nói ngang tàng hóm hỉnh của anh: Rơi xuống cuộc đời không chao đảo / Vững vàng ba bánh đỡ xích lô (Xích lô hành). Hay: Vắng khách đôi khi về chở gió / Không tiền không bạc vẫn cười vang (Giọt nước Hương Giang). Người ta nói thơ là người Phương Xích Lô cũng không ngoại lệ. Nhưng ở Phương có hai con người: con người bên ngoài và con người bên trong ; con người bụi bặm và con người tinh chất... Có điều con người bên trong con người thật ở Phương phần nào bị khuất lấp. Vì thế mà sinh thời không ít người chê cười xa lánh Phương. Đọc thơ Phương ta bắt gặp cả "ngàn cuộc say": Ta say hề đêm nay ta xỉn / Ngất ngưởng đi về giữa khói sương... (Độc tuý hành). Thế mới có biệt danh Phương Say Phương Điên. Thì chính Phương Phương cũng tự coi mình là  một "thằng điên": Tục chẳng tục / Tiên không tiên / Lúc vui xuống phố / Khi phiền lên non... (Chân dung tự hoạ). Con người thật của Phương như: Chút lửa trên đống tro tàn  / Chút trong veo lọc qua ngàn cuộc say... (Tôi còn chút tôi). Mặc dù là "chút lửa" thôi dù là "chút trong veo" thôi nhưng nó cho ta biết vẻ đẹp tâm hồn của Phương mà cả "đống tro tàn" hay cả "ngàn cuộc say" cũng không thể làm lu mờ được. Vẻ đẹp đó trước hết là cái tình người của Phương. Anh không chỉ chia sẻ vui buồn với những đồng nghiệp đạp xích lô  mà còn chia sẻ niềm cảm thông sâu sắc của mình đối với người bạn ngồi bán thuốc lá vỉa hè với em bé bán trứng vịt lộn với cô công nhân vệ sinh môi trường với bé Thượng gùi thông ra chợ... Đọc thơ Phương ta còn hiểu được tấm lòng vị tha của Phương. Với kẻ đã cuỗm đi một phần hạnh phúc của Phương anh chỉ nói một cách nhẹ nhàng "hôm qua chú Cuội khoèo rơi trái rằm". Bị người yêu "đá" Phương chỉ mỉm cười cay đắng: Em đá vào tôi một trái buồn / Còn tôi đá lại trái cô đơn / Đôi ta đều bỏ khung thành trống / Chẳng thấy bên nào có thủ môn (Trái buồn). Với người vợ đã từng lôi Phương như "lôi một con trâu ra tòa ly dị" Phương không những không hề oán giận mà còn luôn quan tâm tưởng nhớ đến nàng: Ta chợt nhớ mười ngón tay gầy guộc / Em bên trời còn gảy tiếng đàn tranh? (Xin lại). Con người dở tinh dở điên ấy lại yêu ghét hết sức phân minh rạch ròi. Phương yêu mến cảm phục sự chân thật của người đạp xích lô Nam Bộ Phương ca ngơi vẻ đẹp thầm lặng của cô công nhân vệ sinh môi trường: Em như quỳnh nở trong đêm vắng / Hương thầm tỏa nhẹ dưới trăng thanh... Phương tự hào với công việc làm ăn lương thiện của người bạn bán thuốc lá vỉa hè. Họ đối lập với "phường giả trá bất lương". Phương chúa ghét những kẻ "đóng kịch": Vào vai đội mão mang hia / Ra vai trả lại râu ria cho đời. Phương cũng chúa ghét những kẻ "tán tụng ba hoa"... Với một tâm hồn nghệ sĩ phương có những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về vẻ đẹp thiên nhiên: Hồ Gươm say theo chiều Lý Bạch / Thiên hạ bảo thất tình / Nước hồ mát như da con gái / Ta về làm rể Thuỷ... (Ký ức Hà Nội). Phương "lục bát" với Hương Giang: Dòng sông như vị thiền sư / Chiều nay / Lặng lẽ vô tư nhìn trời... So sánh nước hồ Gươm "mát như da con gái" còn sông Hương "như vị thiền sư" là hết sức bất ngờ và mới lạ. Phương nghe cũng không giống bất cứ người nào: Đêm nay bỏ phố về làng / Nghe xanh tiếng hát / Nghe vàng lời kinh... (Tâm khúc). Đó là bản năng thi sĩ của Phương là tài thơ bẩm sinh của Phương. Những vần thơ tài hoa đó sẽ còn lại với cuộc đời.

Bốn mươi chín bài thơ trong tập Chở gió mà những người bạn thân thiết của Phương: Nhất Lâm Phạm Nguyên Tường Lương Ngọc An... đã bỏ công sức sưu tầm chọn lọc công bố chính là "chút lửa trên đống tro tàn / Chút trong veo lọc qua ngàn cuộc say". Chở gió là tinh chất cuộc đời Phương để Phương có thể tự tin mà nói với thiên hạ rằng: Trông lên hơn hẳn lũ công cò !

Tôi viết những dòng này thay cho nén tâm nhang tưởng nhớ người bạn thơ hành nghề đạp xích lô ở Huế đã "siêu thoát" cách đây tám năm trên dòng mương trong mát.
     
      Huế tháng 6 - 2010

                                                                 Mai Văn Hoan

More...

NGƯỜI TÌNH CỦA SÔNG HƯƠNG

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

QĐND - Thứ Năm 13/05/2010 10:3 (GMT+7)

 Sông Hương như một cô gái đẹp được nhiều người say mê. Một trong những "người tình" tri kỷ và thủy chung với sông Hương chính là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh từng gắn bó với dòng sông đã hơn bốn mươi năm nay. Càng ngày nhà văn càng khám phá thêm những vẻ đẹp hết sức quyến rũ của người yêu. Đó là vẻ đẹp thơ mộng và lãng mạn trầm mặc và huyền ảo mãnh liệt và dịu dàng... Có thể xem thiên bút ký "Ai đã đặt tên cho dòng sông" là tiếng lòng của nhà văn dâng tặng "người tình" mà nhà văn yêu một cách mê say đắm đuối.   

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ảnh: Thanh Trạch

Trong thiên bút ký này nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khi thì so sánh sông Hương với cô gái di-gan với Kiều; khi thì nhân cách hóa sông Hương "dịu dàng và trí tuệ" đang "nằm ngủ mơ màng"... Sông Hương qua ngòi bút thấm đẫm chất thơ chất trữ tình của nhà văn đã hóa thành một thiếu nữ Huế đa tài đa tình đa cảm... Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu sông Hương chẳng khác gì Nguyễn Du yêu nàng Kiều. Nhiều người mê đắm sông Hương ở "vẻ mặt kinh thành" còn Hoàng Phủ Ngọc Tường vì yêu sông Hương nên đã lặn lội trèo đèo vượt suối lần đến ngọn nguồn dòng sông để tìm hiểu quan sát và nhà văn ngạc nhiên bắt gặp "người tình" của mình vào cái tuổi "xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" không giống như nàng Kiều "âm thầm trướng rũ màn che" mà là "một bản trường ca của rừng già rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn... và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái di-gan phóng khoáng và man dại". Đây là bí ẩn đầu tiên của dòng sông được nhà văn khám phá. Hai nét tính cách đối lập của sông Hương dịu dàng và mãnh liệt đã hình thành "giữa lòng Trường Sơn" "dưới bóng cây đại ngàn" như thế nhưng đã mấy ai biết?

Trong hai nét tính cách ấy thì nét dịu dàng của sông Hương chỉ được  nhà văn tập trung làm nổi bật ở vóc dáng mềm mại và bước đi khoan thai nhẹ nhàng của "nàng": "Vừa ra khỏi vùng núi sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục vòng những khúc quanh đột ngột uốn mình theo những đường cong thật mềm... Sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm thật chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh...". Nét dịu dàng được tác giả đặc tả qua hình ảnh dòng sông như một cô gái đẹp "nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại".

Sự dịu dàng chỉ cần nhìn ngắm là có thể nhận ra nhưng tính cách mãnh liệt của dòng sông thì đòi hỏi phải có sự am hiểu thật tường tận về lịch sử và văn học mới phát hiện được. Nhà văn ngược dòng quá khứ và hình dung sông Hương "đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Ðại Việt qua những thế kỷ trung đại. Thế kỷ XVIII nó vẻ vang soi bóng Kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa. Và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng Tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển...". Tính cách mãnh liệt ấy của sông Hương chợt nhiên hùng tráng lên như kiếm dựng trời xanh trong khí phách của Cao Bá Quát. Phải nhạy cảm và tinh tế đến mức nào phải thấu hiểu sông Hương đến mức nào Hoàng Phủ Ngọc Tường mới diễn tả được nỗi lòng thầm kín của sông Hương với thành phố Huế thân yêu một cách lãng mạn và tài tình đến như thế. Nhà văn so sánh cặp tình nhân này với cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: Tìm kiếm và đuổi bắt hào hoa và đam mê thi ca và âm nhạc... và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở. Chỉ qua một khúc quanh một đường cong từ Cồn Giã Viên sang đến Cồn Hến mà nhà văn có thể lắng nghe "như một tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu...". Một sự liên tưởng hết sức bất ngờ mà nếu không thấu hiểu sự đa tình đa cảm của sông Hương của những người con gái Huế và ngọn nguồn sâu xa của văn hóa Huế thì không thể nào diễn tả được.

Tương tự như thế nếu không am hiểu những nét đặc sắc của văn hóa Huế nhà văn cũng không thể có cách lý giải khá độc đáo về nguồn gốc âm nhạc cổ điển Huế. Theo nhà văn thì toàn bộ nền âm nhạc ấy "đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này trong một khoang thuyền nào đó giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya...". Hoàng Phủ Ngọc Tường còn phát hiện vẻ đẹp trầm mặc như triết lý như cổ thi của sông Hương khi trôi giữa hai dãy đồi sừng sững qua  những điểm cao đột khởi những rừng thông u tịch những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu... Cùng với vẻ đẹp trầm mặc là vẻ đẹp biến ảo sương khói và huyền bí "vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được"...

Có thể nói với thiên bút ký tâm huyết này nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khái quát khá đầy đủ vẻ đẹp thiên nhiên Huế văn hóa Huế con người Huế một cách cô đọng giàu cảm xúc suy tư triết lý và hình ảnh.      


Nhà thơ Mai Văn Hoan
Nguồn báo QDND ct

More...

Võ Quê và thơ lái

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Thứ Hai 10/05/2010  11:35

Võ Quê và thơ lái

TP - Những năm gần đây ở Huế lưu truyền một số bài "thơ lái" khá độc đáo của Võ Quê. Những bài thơ này vừa có tính thời sự vừa hóm hỉnh ở nghệ thuật con chữ.

Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi/ Ngồi eo sèo với bao gian khó/ Gió khan đắng họng tái tê đời.

Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc.

Nhà thơ Võ Quê

Võ Quê không phải là người đầu tiên làm thơ lái. Ngay từ thời Trung đại nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng với một số câu thơ lái hết sức quái kiệt đáo để như : "Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo" hay "Trái gió cho nên phải lộn lèo"... Ở Huế thời Pháp thuộc có cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi cũng là một cây "lái thơ" khá nổi tiếng.

Trong dân gian vẫn lưu truyền một số câu thơ lái hết sức dí dỏm và sâu sắc của cụ. Chẳng hạn như: "Cầu đạo nên chi phải cạo đầu" "Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn" "Công khó chờ nhau biết có không" "Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông"...

Và đặc biệt là câu: " Thầy tu mô Phật cũng thù Tây". Sau khi cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi mất (1966) thơ lái tưởng như "đứt mạch". Thời Bình Trị Thiên một số nhà thơ như Xuân Hoàng Văn Lợi... chỉ nói lái trêu đùa nhau cho vui mà thôi.

Tôi còn nhớ một vài câu đại loại như : "Đi Cửa Lò bị cò lừa bác Hà Sâm suýt hầm sa" ; "Đi phong trào được trao phòng" ; "Ăn cháo lòng chống gió Lào"; LTM có bài thơ Những mùa trăng mong chờ khá nổi tiếng các anh lái thành Những mùa trăng mơ chồng ; bài Trăng mùa đông của tôi gửi báo nào cũng không thấy in các anh đổi thành Trông mùa đăng...

Theo nhà thơ Võ Quê cho biết thì mãi đến năm 1999 anh mới làm thơ lái. Đó là năm mà tỉnh Thừa Thiên Huế bị một trận lụt thế kỷ. Thấy chị em làm nghề ca Huế trên sông Hương phải ngưng hoạt động trong một thời gian khá dài để chống chọi và khắc phục hậu quả của trận lụt thế kỷ ấy nhà thơ bèn làm một bài thơ lái để đùa vui:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.

Cái tài của tác giả là sử dụng cách nói lái rất tự nhiên và rất phù hợp với hoàn cảnh tâm trạng của các ca sĩ lúc đó. Nghe Võ Quê đọc chị em không nhịn được cười. Bài thơ lái ấy của Võ Quê không cánh mà bay. Chỉ mấy hôm sau trong các quán cóc quán cà phê vỉa hè người ta đọc chuyền nhau: Trời lụt ca nhi cũng trụt lời...

Thành công bất ngờ ấy đã khích lệ tác giả làm thức dậy tiềm năng sáng tác thơ lái của anh. Võ Quê lần lượt "xuất bản bằng miệng" một loạt bài thơ lái cũng dí dỏm sâu sắc chẳng thua gì tiền nhân Thảo Am Nguyễn Khoa Vi.

So với một số thành phố khác trên cả nước thì Huế vẫn còn nghèo. Người Huế tự trào "Huế thơ Huế mộng Huế tòng bọng hai đầu". Nghèo nhất vẫn là dân vạn đò những người đạp xích lô xe thồ... Có người "chạy ăn từng bữa toát mồ hôi". Hơn ai hết Võ Quê hết sức thông cảm với hoàn cảnh đói nghèo của họ nhất là khi đồng tiền làm ra thì khó mà vật giá cứ ngày một "leo thang":

Vật giá leo thang gạo lỏng nồi
Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi
Ngồi eo sèo với bao gian khó
Gió khan đắng họng tái tê đời

Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc: hai chữ cuối câu đầu lái với hai chữ đầu câu hai hai chữ cuối câu hai lái với hai chữ đầu câu ba hai chữ cuối câu ba lái với hai chữ đầu câu bốn. (khác với kiểu lái trong từng câu mà cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi vẫn làm). Kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc này cực khó phải là bậc "cao thủ" mới làm được.

Đây là nỗi lòng của dân chúng khi giá xăng dầu tăng vọt:

Dầu xăng tăng giá dạ giăng sầu
Đầu tiên trăn trở bạc tiền đâu
Giật gấu vá vai theo vật giá
Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau

Không chỉ cảm thông với những người dân lao động nghèo khổ Võ Quê còn sử dụng thơ lái để chống tiêu cực. Anh biến thơ lái  thành một thứ vũ khí hết sức sắc bén đánh vào bọn tham nhũng:

Lần vô danh lợi hại dân lành
Tranh thùng   tranh thủ mới trung thành!
Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy
Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh

Ở bài thơ trên ngoài những cặp lái: tranh thùng - trung thành   đầy tớ - tờ đấy giành nhau - giàu nhanh tác giả còn sử dụng một loạt các phụ âm t tr th ở câu thứ hai và thứ ba tạo nên âm điệu rất đặc biệt.

Những thủ đoạn: tranh thùng (tranh phiếu) tranh thủ (nịnh bợ)... của bọn tham nhũng được tác giả lột trần không chút e dè ngần ngại. Bọn chúng là một lũ  thoái hoá biến chất:

Biến chất điếm đàng đi chiếm đất
Cánh đồng xoang bởi Kuán Đồng Xanh
Hối mại chức quyền gieo mối hại
Lanh mưu thoái hóa thật lưu manh!

Hầu hết thơ lái xưa nay đều sử dụng hình thức lái đôi (cặp hai chữ) ở bài thơ trên Võ Quê đã mạnh dạn thử nghiệm hình thức lái ba (cặp ba chữ): "cánh đồng xoang" - "Kuán Đồng Xanh".

Kiểu lái ba này cũng cực khó. Nếu tôi không nhầm thì nữ sĩ Hồ Xuân Hương chỉ sử dụng  một lần duy nhất kiểu lái cặp ba này trong bài thơ Quán Sứ: Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo.

Thơ lái Võ Quê không chỉ sâu sắc thâm thuý mà còn rất hóm hỉnh. Đây là bài thơ lái anh làm để trêu những cặp trai gái lỡ "ăn cơm trước kẻng":

Bầu trỏ hèn chi phải bỏ trầu
Bầu to nên mới tậu bò trâu
Quệt má vì yêu nên quá mệt
Bầu lên hạnh phúc được bền lâu

"Bầu trỏ" là mới có thai nên phải làm đám hỏi (bỏ trầu). "Bầu to" là cái thai ngày một lớn nên phải làm đám cưới (tậu bò trâu). Lỡ "quệt má"- nghĩa là lỡ làm cái chuyện ấy nên phải lo đám hỏi đám cưới thì "quá mệt" là phải. Nhưng cái thai càng lớn thì hạnh phúc càng "bền lâu". Đằng sau tiếng cười nhẹ nhàng là quan niệm rất nhân văn về tình yêu và hạnh phúc của tác giả.

Võ Quê còn làm thơ lái đùa các bợm rượu:

Một chai mai chột coi chừng!
Nhị chai nhai chị tưng tưng ngà ngà
Ba chai là bai nghe cha!
Bốn chai cẩn thận kẻo mà bái chôn
Ngũ chai ngai chủ hùng hồn
Sáu chai sai cháu bếp cồn luộc tôm!

Bài thơ này là một thể nghiệm nữa của Võ Quê. Hồ Xuân Hương Thảo Am Nguyễn Khoa Vi chỉ làm thơ lái theo thể đường luật và hầu hết là thất ngôn tứ tuyệt. Võ Quê mạnh dạn chuyển thơ lái sang thể lục bát. Bài thơ trên có tới 12 câu câu nào cũng có cặp lái đôi.

Quy luật lái khá linh hoạt. Câu một câu hai câu năm câu sáu là những cặp lái đôi liền nhau. Câu ba vế thứ hai được tách ra nằm xen giữa chữ "là" và "nghe": ba chai - bai cha. Câu  thứ tư tác giả đột ngột chuyển sang lái cách (hai chữ đầu lái với hai chữ cuối). Ở câu kết lẽ ra không được dùng vần "ôm" ở chữ thứ tám vì nó vần thông với chữ thứ sáu nhưng vần "ôn" và "ôm" đặt cạnh nhau nghe rất ngộ nghĩnh.

Bởi thế mà tác giả đã mạnh dạn phá lệ.  Ngồi trong chiếu rượu mà đọc bài thơ lái này không ai có thể nhịn được cười. Những lời nhắc nhở các bợm rượu thật dí dỏm mà cũng thật chí tình chí lý.

Cuối năm ngoái đầu năm nay chị Tiểu Kiều (vợ nhà thơ) không may lâm bệnh hiểm nghèo các cháu đang công tác xa một mình nhà thơ vừa chăm sóc vợ vừa làm công việc nội trợ. Cứ ngỡ anh không còn tâm trí thời gian để "lái thơ" nữa.

Vắng thơ lái Võ Quê dân quán cóc quán cà phê vỉa hè cảm thấy thiêu thiếu một cái gì. Không biết ai đó đã than rằng: Chưa về nhắm rượu làng Chuồn / Chưa nghe thơ lái sao buồn Võ Quê  (làng Chuồn nổi tiếng rượu ngon là quê của anh). Có lẽ hiểu được tâm trạng chờ đợi của người hâm mộ Võ Quê lại tiếp tục Tự trào bằng thơ lái: 

Cuối năm cắm cúi chăm nuôi vợ
Đầu năm mong vợ hết nằm đau
Số phận an bài ai bàn nữa!
Câu thơ Xuân đó có buồn đâu...

Và:

Vợ chồng là phải vọng chờ
Dạo một vòng chợ nên thơ vợ chồng

Trong khó khăn vất vả anh vẫn vui đùa tếu táo:

Cuộc đời thành một trò chơi
Khổ đau hạnh phúc là trời cho ta

Thơ lái cũng là một "trò chơi" mà "trời" đã ban cho Võ Quê. Bởi vì không phải bất cứ ai cũng làm được thơ lái vừa thông minh vừa hóm hỉnh vừa thâm trầm như anh.

Võ Quê được nhiều người biết đến với phong trào xuống đường của học sinh sinh viên các đô thị miền Nam (1966).

Anh từng bị kẻ thù bắt và giam ở nhà tù Côn Đảo. Những tháng ngày bị đày ải anh vẫn luôn giữ vững ý chí và niềm tin vào tương lai cách mạng.

Tập thơ Một thuở xuống đường (NXB Thuận Hoá 2001) đã ghi lại chặng đường lịch sử ấy.

Sau 1975 Võ Quê là một trong những người có công đầu trong việc phục hồi và phát triển nghề ca Huế trên sông Hương. Anh cũng đã xuất bản hàng chục tập thơ.

Huế tháng 4 - 2010

Mai Văn Hoan
Nguồn báo Tiền Phong ct

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'2482','0dnq61eh3o92udd4h2khus7na7','0','Guest','0','54.196.98.96','2018-08-18 06:55:14','/ac4343/phe-binh-tieu-luan.html')