NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN MỘT TẬP TỤC ĐẸP

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN MỘT TẬP TỤC ĐẸP

NGÔ MINH

Viếng mộ nhà thơ Phùng Quán

Ngày thơ  Nguyên Tiêu Tân Mão năm nay ở Huế có rất nhiều điểm sinh hoạt thơ rất sôi động : Đêm thơ Nguyên Tiêu ở thị xã Hương Thủy ở huyện lỵ Hương  Trà đêm thơ của Cậu lạc bộ thơ Sông Bồ ( Hương Điền ); Nói chuyện thơ với đề tài Hạnh phúc trong thơ  do nhà nghiên cứu văn hóa  Cao Huy Thuần Việt Kiều  Pháp trình bày ở Liễu Quán chiều 12 Tháng Giêng . Đêm thơ Nguyên Tiêu chính của Huế diễn ra  ở Đại Nội  với chủ đề Đồng vọng thi ca . Ở đây sẽ giới thiệu thơ của  vị vua Nguyễn  ngư Minh Mạng Tự Đức thơ của các quan triều Nguyễn và thơ của các nhà thơ hiện đại nổi tiếng của Huế như Nguyễn Khoa Điềm.v.v..Nhưng có lẽ ám ảnh  nhất  và chương trình viếng mộ thi nhân trong Ngày thơ Việt nam ở Huế được tổ chức  sáng ngày 14 tháng Giêng Tân Mão .

Viếng mộ thi nhân ở Huế được tổ chức lần đầu tiên vào  Ngày thơ Việt Nam năm 2007 . Các văn nghệ sĩ Huế thấy đây là chương trình có ý nghĩa nhân văn lớn trong việc "ôn cố tri tân" nên đã quyết định "từ nay trở lên" đến Ngày thơ Việt Nam hàng năm đều có tổ chức viếng mộ thi nhân tại Huế . Đã thành lệ đây là lần thứ tư các nhà văn Huế đi viếng mộ thi nhân trong Ngày thơ Việt Nam. Chúng tôi cho rằng Ngày thơ Việt Nam là ngày Chào Lá cờ Thơ ngày "Giỗ Thơ" nên đi viếng mộ thi nhân là việc đầu tiên phải làm. Và ở Huế viếng mộ thi nhân trong ngày thơ Việt Nam đã thành một mỹ tục.

Năm nay việc viếng mộ thi nhân sẽ bắt đầu từ sáng 14 tháng Giêng Tân Mão . Chúng tôi  xin kể lại việc việc mộ thi nhân  trong ngày thơ Việt Nam năm Canh Dần để bạn đọc hình dung việc viêng một thi nhân năm nay xúc động như thế nào . Nguyên  Tiêu năm ngoái sáng ngày 25/2/2010 ( tức ngày 12 Tháng Giêng Canh Dần) rất nhiều nhà văn nhà thơ  Huế do hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế dẫn đầu đã lên vùng đồi miền Tây Huế viếng mộ các nhà thơ . Đoàn gồm có nhà thơ Hồng Nhu Mai Văn Hoan Trần Hoàng Phố Trần Thuỳ Mai Ngô Minh Hạ Nguyên Nguyễn Thiền Nghi Lê Vĩnh Thái Nguyên Quân Lê Tấn Quỳnh.v.v.. cùng gần 20 em học sinh lớp chuyên văn trường Đaị học Khoa hoc do cô giáo hoạ sĩ Võ Thị Quỳnh dẫn đi . Chương trình do Tạp chí Sông Hương tài trợ. Tạp chí đã thuê xe mua nhang rượu ngon cho các nhà văn đi viếng mộ.

Viếng mộ Cụ Phan Bội Châu

Mộ các nhà thơ nhà văn ở Huế tập trung ở 3 khu vực gồm Nhà thờ Phan Bội Châu- Nghĩa Trang Phan Bội Châu Đồi Từ Hiếu và Nghĩa trang nhân dân thành phố Huế. Đoàn đã  đến Nhà thờ Phan Bội Châu ở 92-đường Phan Bội Châu thắp nhang viếng mộ cụ Phan một nhà thơ nhà cách mạng nổi tiếng của nước ta đầu thế kỷ XX. Nhà thờ Phan Bội Châu vừa qua đã được sửa sang lại đẹp hơn. Các em học sinh chuyên văn . Huế ríu rít thắp nhang bên tượng cụ Phan. Bức tượng bán thân Phan Bội Châu do họa sĩ nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn ( định cư ở Úc đã mất) thực hiện năm 1973 cao 4 5m rộng 3 5m dày 2 5m gồm 12 mảnh ghép thể hiện chân dung cụ Phan với hai mảng phù điêu phản ánh hiện thực và ước mơ. Mảng bên trái là bóng tối thể hiện xiềng xích nô lệ áp bức và tù đày của chế độ thực dân xâm lược. Mảng bên phải biểu đạt ước vọng hòa bình và độc lập ấm no và hạnh phúc. Tượng được đặt trên một bệ hình khối chữ nhật cao 2m bằng đá hộc. Từ 30 năm nay tượng được đặt tạm trong khuôn viên nhà thờ cụ Phan . Theo các nhà chuyên môn bức tượng được đánh giá là lớn và đẹp nhất nước hiện nay. Nhưng vì nhiều lý do mà hơn 30 năm qua vẫn chưa tìm được vị trí tương xứng để đặt. Vừa qua giới chức văn hoá tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã có nhiều cuộc họp bàn việc sẽ đặt bức tượng Phan Bội Châu ở một vị trí bên bờ sông Hương để Huế có thêm một điểm du lịch đẹp ý nghĩa. Nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Nghĩa trang Phan Bội Châu ở 5-đường Thanh Hải Huế là khuôn viên mà sinh thời cụ Phan Bội Châu dùng tiền riêng của mình mua để làm nơi chôn cất những người yêu nước. Các nhà văn Huế và các em học sinh đã kính cẩn thắp nhang viếng các nhà thơ nhà văn lớn có mộ ở đây như Nữ sử Đạm Phương nhà văn Hải Triều ( là bà nội và bố của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm) nhà thơ Thanh Hải và các nhà cách mạng khác như Nguyễn Chí Diễu.v.v..

Đồi Từ Hiếu ( nơi có chùa Từ Hiếu) là nơi có nhiều mộ các thi sĩ Hoàng tộc và các nhà cách mạng. Len lỏi vượt qua cây xấư hổ dày đặc và những bức tường xây cao thấp lắt léo của một nghĩa trang dày đắc mộ chí các nhà văn và các em học sinh đã tìm đến thắp nhang cho Nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẫm ( con vua Minh Mạng) một nhà thơ nổi tiếng Huế thế kỷ XIX. Sau đó đến viếng ngôi mộ chung của nhà thơ Vĩnh Mai và vợ là bà Phương Chi. Nhà thơ Vĩnh Mai là Bí thư đầu tiên cuả Thành uỷ Huế. Ngôi mộ hai vợ chồng đã được nhà thơ Nhât Lâm cải táng "nằmchung mộ"  giữa năm 2009 theo di chúc của nữ sĩ Phương Chi sau khi bà mất. Ở đồi Từ Hiếu đoàn còn thắp nhang vái lạy các nhà cách mạng chống Pháp kiên cường như Trần Thúc Nhẫn Trần Cao Vân Thái Phiên. Trần Cao Vân và Thái Phiên  là người Quảng Nam bị Pháp bắt vì chống Pháp bị xử chém được nhân dân chôn chung mộ. Ngôi mộ chung có 2 tấm bia được bà con xây cất đàng hoàng.

Nhà thơ Mai Văn Hoan đọc thơ bên mộ nhà thơ Nguyễn Văn Phương

Dọc đường Tam Thai lên Nghĩa trang nhân dân Huế có mộ của hoạ sĩ tài ba Bửu Chỉ mộ các nhà thơ Hải Bằng Nguyễn Văn Phương ( Phương Xích lô) Nguyễn Xuân Hoàng và Thái Ngọc San. Trưa nắng nóng nhưng các nhà văn các em học sinh mồ hôi mồ kế đã hăng hái tìm đến các ngôi mộ thi sĩ. Mộ hoạ sĩ Bửu Chỉ ở cạnh Chùa Ba Đồn được gia đình xây cất rất đàng hoàng. Mới đó mà hoạ sĩ ra đi đã 5 năm rồi. Nhà thơ Trần Hoàng Phố hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu đã châm điếu thuốc Ngựa cắm lên bát nhang rồi rót rượu cúng hoạ sĩ. Ở mộ nhà thơ Phương Xích lô nhà thơ Mai Văn Hoan đã xúc động đọc cho các em học sinh nghe bài thơ Trôi mà thi sĩ Nguyễn Văn Phương chép tặng trong sổ tay Mai Văn Hoan rồi Phương quên chưa công bố trong các tập thơ của anh. Bài thơ như tiếng thốt lên của định mệnh : Mai ta chết / mồ kia xanh ngọn cỏ / Những mùa thu vẫn lặng lẽ đi qua / Có chiếc lá nào / rơi / trên bia mộ / Ai chôn dùm xác lá / cạnh gần ta ! / Mai ta chết / có ai cười ai khóc / Trong tận cùng sâu thẳm / ta nằm nghe / Có ai đến bên ta ngồi đọc / lời thơ tưởng niệm gọi ta về... / Mai ta chết / có ai lên đó hỡi / Trên mồ ta / những / quạ rú thông reo / Đè lên ta/ bằng tháng ngày / ớn lạnh / Giữa bốn bề / nghĩa địa / đìu hiu... Các nhà văn rót rượu tưới lên mộ Phương. Các em học sinh xúc động đứng quanh mộ chụp ảnh kỷ niệm. Thấy trên mộ Phương cát bị xói nhà thơ Nguyên Quân đã đến nhà bà cạnh đó gửi tiền nhờ bà mua một xe ba gác sỏi rải lên mộ nhà thơ. Thật tình nghĩa.

Mộ nhà thơ Thái Ngọc San nằm dưới đồi thông đẹp. Gia đình bạn bè đã xây cất khuôn viên mộ rất đẹp và sang trọng. Có cả bàn đá cho bạn bè đến viếng ngồi uống rượu. Nhà thơ Nguyên Quân đã lấy rượu trắng tưới lên bia mộ Thái Ngọc San để lau cho sạch cho mọi người chụp ảnh. Sau đó nhà văn Hồng Nhu ( đã 77 tuổi vẫn theo anh em đi viếng mộ thi nhân suốt buổi sáng) Trần Thuỳ Mai Ngô Minh Mai Văn Hoan ...đã lần lượt thắp nhang vái lạy chúc nhà thơ yên nghỉ ngàn Xuân. Mộ nhà thơ Nguyễn Xuân Hoàng ( thư ký toà soan Tạp chí Sông Hương mất khi 41 tuổi) nằm trong khuôn viên mộ gia đình bên vợ. Xuân Hoàng là thi sĩ rất ngất ngưỡng nên ở mộ anh người bạn thân là nhà thơ Hạ Nguyên ( tức Hồ Đăng Thanh Ngọc phụ trách Tạp chí Sông Hương) đã khuy chai rượu quý để mọi người cụng ly với hương hồn thi nhân. Ai cũng tưới lên mộ Xuân Hoàng một chén rồi cụng ly uống một chén . Rồi anh em đọc những bài thơ cuối đời của Nguyễn Xuân Hoàng. Bài thơ Lệ nến như một dự báo số phận thật xúc động. Cháy nữa thôi nến ơi / Hanh khô từng giọt máu / Nhen tình em nhân hậu / Độ lượng ấm vòng tay / Cháy nữa thôi nến ơi /Ta đợi em / Nến tàn / Héo khô dòng nước mắt / Gót chân khuya / Em về / Bình minh lên / tím buốt / Cháy nữa thôi nến ơi / Một kiếp người ngắn ngủi..

Năm nay hành trình Viếng mộ Thi nhân ngày Thơ Việt Nam vẫn diễn ra như năm ngoái. Nhưng  nét mới hơn là điểm kết thúc  là viếng mộ Phùng Quán  mới xây dựng xong rất khang trang ở vùng Ngoại Viên Hưng Thủy Dương . Khu lăng mộ Phùng Quán được  xây dựng nhờ sự "góp cát đá" của đông đảo bạn bè văn chương và người hâm mộ ở khăp nơi trong và ngoài nước.  Người viết bài này trộm nghĩ ở Hà Nội cũng như ở các tỉnh việc đáng làm nhất trong Ngày thơ Việt Nam nên dành thời gian viếng mộ các thi nhân như là một sự tri ân người đi trước.  

Và phải duy trì Ngày viếng mộ thi nhân thành một tập tục văn hoá Việt .

More...

Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế - Một năm nhìn lại

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Cập nhật: 23:39:00 31/1/2011
VanVn.Net - Như thường lệ cứ vào dịp cuối năm Ta đầu năm Tây Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế lại hội ngộ lai rai chuyện trò vui vẻ được lần lượt tổ chức tại gia đình các hội viên. Cũng là một cách "đi thực tế" và tăng cường tình đoàn kết thân ái trong Chi hội. Khởi đầu tại nhà Hoàng Phủ Ngọc Tường- Lâm Mỹ Dạ rồi đến nhà Ngô Minh...Năm ngoái Trần Huyền Sâm đăng cai. Năm nay tổ chức tại nhà Phạm Nguyên Tường vào chiều 25 - 1. Cả hai đều là những tác giả trẻ vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam...

 

st1:*{behavior:url(#ieooui) }

Sau khi tặng hoa cho hai nhà văn Nguyễn Quang Hà Tô Nhuận Vĩ vừa lên lão bảy mươi và nhà thơ Phạm Nguyên Tường vừa được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam   nhà văn Nguyễn Khắc Phê - Chủ tịch Chi hội tổng kết vắn tắt một năm hoạt động của Chi hội. Có thể nói Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế năm vừa qua là một năm "thắng lợi vẻ vang": 19 hội viên - hầu hết tuổỉ cao sức yếu nhưng đều hăng say lượng sáng tạo. Có hai nhà văn đoạt giải cuộc thi tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (Nguyễn Quang Hà và Nguyễn Khắc Phê ). Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đoạt giải nhì sách đẹp do Phát hành sách Trung ương bình chọn. Nhà văn Nguyễn Quang Hà đã vượt qua được căn bệnh hiểm nghèo không chỉ giành được giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết mà đã cho xuất bản cuốn ký sự viết về đại đội Ngô Gia Tự và hoàn thành cuốn tiểu thuyết "Con nợ" cũng viết về đề tại chiến tranh. Anh vừa là người khởi xướng vừa là người trực tiếp tổ chức quyên góp xây dựng tượng đài Đại đội Ngô Gia Tự tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh trên mặt trận Trị Thiên - Huế thời chống Mỹ với nguồn kinh phí lên đến 200 triệu đồng. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm  tham gia bổ sung sửa chữa "Tuyển tập Đạm Phương nữ sử".  (Nữ sử Đạm Phương là bà nội của nhà thơ NKĐ). Nhà văn Hồng Nhu và nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã hoàn thành tuyển tập để có thể xuất bản trong năm nay. Nhà văn Tô Nhuận Vĩ vừa hoàn thành tiểu thuyết "Vùng sâu" về đề tài chiến tranh. Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân cũng vừa hoàn thành tập hồi ký dày dặn và đã cho ra mắt tập biên soạn "Nhánh tùng vườn An Hiên" - như là một nén hương tưởng niệm bà Tùng Chi một nhân sĩ trí thức tiểu biểu ở Huế . Nhà thơ Ngô Minh vừa hoàn thành tập ghi chép đầy tâm huyết 100 ngày vượt Trường Sơn vừa tổ chức "góp cát" xây lăng mộ  nhà thơ Phùng Quán. Chỉ trong một thời gian ngắn số tiền quyên góp đã xấp xỉ 200 triệu. Điều đó chứng tỏ có rất nhiều độc giả trong và ngoài nước hết sức yêu mến ngưỡng mộ nhà thơ Phùng Quán. Nhà văn Trần Thùy Mai đang tham gia viết kịch bản phim nhiều tập. Mai Văn Hoan xuất bản tập phê bình tiểu luận "Đọc và suy ngẫm..." Ngoài ra Chi Hội còn tiến hành làm Tuyển tập Thanh Hải (Mai Văn Hoan sưu tầm và biên soạn NXB Thuận Hóa 2010) và hoàn tất hai kịch bản phim chân dung nhà văn (Vĩnh Nguyên và Mai Văn Hoan)...

Công việc trọng tâm của Chi hội trong năm tới là tiếp tục đẩy mạnh  sáng tác để có thêm nhiều tác phẩm mới cố gắng tổ chức các chuyến đi thực tế (trước mắt dự kiên sẽ đi Lào và Thái Lan) quan tâm phát triển hội viên mới. Thừa Thiên Huế vốn là mảnh đất giàu tiềm năng văn chương. Những tác giả như Phạm Phú Phong   Nguyễn Việt Đông Hà Dương Phước Thu Hồ Đăng Thanh Ngọc Trần Hạ Tháp Phạm Ngọc Túy Nhụy Nguyên ... đều là những "ứng cử viên"  sáng giá để có thể giới thiệu với Hội Nhà văn Việt Nam. Chỉ sợ "cánh cửa"  vào Hội Nhà văn quá "chật hẹp" mà thôi!

Mặc cho trời mưa rét buổi họp mặt đã diến ra trong không khí hết sức đầm ấm và thân tình.

More...

THẦY HIẾN DỊCH VÀ GIẢNG THƠ MAI-A

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

 

                         THẦY HIẾN DỊCH VÀ GIẢNG THƠ MAI-A

      

       Thời còn là sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Vinh (1967 - 1971) chúng tôi thường gọi thầy Hoàng Ngọc Hiến là thầy Hiến. Đó là cách gọi thân mật của những học sinh vùng quê miền Trung đối với những thầy giáo trường làng. Lên đại học chúng tôi vẫn giữ nguyên thói quen ấy. Vào năm học thứ nhất chúng tôi đã nghe danh thầy. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoa Văn trường Vinh thời ấy chỉ duy nhất thầy là Phó tiến sĩ. Chúng tôi chờ đến dài cổ mãi đến năm thứ ba mới được nghe thầy giảng Văn học Nga Xô- viết và thơ Mai-a (Mai-a-cốp-xki).


        Vốn là người yêu thơ và say mê thơ từ nhỏ nên nghe thầy Hoàng Ngọc Hiến giảng thơ Mai-a tôi như nuốt lấy từng lời. Không  sôi nổi như thầy Nguyễn Khắc Phi không khoan thai đĩnh đạc như thầy Phùng Văn Tửu không nhỏ nhẹ cuốn hút như thầy Hoàng Tiến Tựu không hùng hồn như thầy Trần Duy Châu... thầy Hiến giảng chậm rãi giọng hơi khàn nhưng mỗi từ mỗi ngữ. mỗi câu thầy mà nói ra tôi có cảm tưởng là đã được thầy nghiền ngẫm khá kĩ lưỡng. Dịch và giảng thơ Mai-a không dễ. Thầy Hoàng Ngọc Hiến là người Việt Nam đầu tiên dịch tương đối trọn vẹn những tác phẩm chính của nhà thơ Mai-a từ nguyên bản tiếng Nga ra tiếng Việt. Sau này đọc những dòng tâm sự của thầy tôi mới biết thầy bắt tay vào việc dịch thơ Mai-a ngay từ khi đang học ở Liên-xô (cũ). Theo thầy Mai-a dùng nhiều ước lệ và những luật chơi của nghệ thuật thơ ca nên dịch rất khó. Thầy phải nhờ những người bạn Nga tận tình giúp đỡ mới dịch được một cách tương đối thanh thoát. Khi giảng cho chúng tôi thầy chủ yếu trích dẫn những bài thơ thầy dịch. Ấn tượng nhất là tiết giảng về trường ca Lê-nin. Lê-nin từng nói là không thích thơ Mai-a. Mai-a cũng biết điều đó nhưng khi Lê-nin mất không có nhà thơ nào viết về Lê-nin xúc động như Mai-a. Nhà thơ mở đầu bản Trường ca:

Thời gian !

Tôi bất đầu kể chuyện Lê-nin

        Và thầy giảng giải: Sở dĩ Mai-a chọn thời gian để kể chuyện Lê-nin vì thời gian là vĩnh cửu. Chuyện của người bất tử chỉ có thời gian là người lưu giữ lâu dài nhất bảo đảm nhất chắc chắn nhất.  Rồi thầy đột ngột liên hệ  trường ca Theo chân Bác của nhà thơ Tố Hữu vừa mới đăng trên báo Văn nghệ năm ấy (1970). Trong bản trường ca Theo chân Bác Tố Hữu cũng mở đầu:

Tháng năm ơi có thể nào quên.

Hàng bóng cờ tang thắt dải đen...

       Tố Hữu cũng đang kể chuyện Bác Hồ với thời gian. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên của hai nhà thơ lớn. Cả hai nhà thơ đều ca ngợi tầm nhìn xa rộng của hai vị lãnh tụ:

Người nhìn bao trùm lên toàn trái đất

Thấy nhiều điều sau lớp lớp thời gian

                                                               (Mai-a)

Ai hay ngọn lửa trong hang núi
Mà sáng muôn lòng vạn kiếp sau!

                                                                (Tố Hữu)

       Nhưng  Tố Hữu không thể viết như Mai-a: Những kẻ nào thần thánh hóa Lê-nin thì "trên nóc Kremlinh tôi ném bom đả đảo". Bởi vì "kỷ nguyên bước vào đi qua khung cửa / bình thường thôi đầu không chạm xà trên" và "nhược điểm thường tình tôi vẫn thấy ở Người"... Đó là chỗ khác nhau cơ bản của hai nhà thơ. Nhận xét này của thầy khiến tôi nhớ mãi. Khi giảng về đoạn Mai-a tả đám tang Lê-nin thầy chỉ xoay quanh phân tích "môi- trường- nước". Đó là nước mắt của các cụ già. Đó là cảnh tuyết rơi dày đặc... Và thầy liên hệ "môi- trường- nước" trong bài thơ Bác ơi của Tố Hữu:

                    Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

                    Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa...

       Giảng tổng quan về  Mai-a thầy Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh cho chúng tôi tính chiến đấu và ý nghĩa xã hội vô cùng sắc bén của thơ ông. Thầy đơn cử hai bài mà thầy hết sức tâm đắc. Hai bài đó là Tài liệu phổ thông cho những người học nịnh và Những người loạn họp. Với Những người loạn họp thầy đã chuyển hóa khá tài tình chất hóm hỉnh của Mai-a sang thơ Việt khiến cho chúng tôi khi nghe thầy đọc không nhịn được cười. Đặc biệt là đoạn cuối:

Tôi xông đến hội trường
Và tôi thấy
Toàn nửa người ngồi đấy
Những nửa người kia đâu?
Ôi ma quái!
"Chém người!"
"Giết người!"
Tôi hô hoán cuống cuồng
Tôi rụng rời trước cảnh tượng kinh hồn
Nhưng tiếng ai
Nghe vô cùng bình thản:
"Một ngày
Chúng tôi
Họp hai chục bận
Họ phải đi hai cuộc họp một lần
Biết tính sao đành cắt đôi thân
Ở đây một nửa tới ngang hông
Còn nửa kia
Đi họp hành nơi khác

        Trong đời đi dạy tôi từng tham dự đủ các cuộc họp: họp hội đồng họp tổ chuyên môn họp công đoàn họp chi đoàn họp phụ huynh họp hội Chữ thập đỏ... trong đó có không ít cuộc họp vô bổ.  Cách đây vài năm trong chuyến đi thực tế ở huyện Tuyên Hóa Quảng Bình đã 8 giờ đêm tôi với hai nhà thơ Hoàng Vũ Thuật và Hải Kỳ tìm thăm một người bạn. Đến nơi thì anh ta thông cảm là đang bận họp. Hiện nay cái bệnh loạn họp có phần đỡ hơn. Nhưng hễ có những cuộc họp vô bổ trùng nhau là tôi lại nhớ thơ Mai-a: "biết tính sao   đành cắt đôi thân ở đây một nửa tới ngang hông còn nửa kia đi họp hành nơi khác...".

         Mặc dù đề cao thơ tuyên truyền chính trị của Mai-a nhưng ngay thời ấy thầy Hoàng Ngọc Hiến khẳng định với chúng tôi: Mảng thơ tình của Mai-a là mảng thơ vô cùng quan trọng không thể bỏ qua. Mai-a định nghĩa về tình yêu không giống bất kỳ ai: "Yêu nghĩa là chạy thốc vào sân / Vung búa rìu giang ta bổ củi...". Mai-a "tự kiêu" cũng hết sức đáng yêu:

Ở nước Nga tôi vào loại trứ danh

Tôi đã thấy những cô nàng khá xinh

Tôi đã gặp những cô nàng kiều diễm

Với nhà thơ con gái dễ cảm tình

Tôi lại láu giọng của tôi khá tốt

Tôi mà bỏ bùa thì theo tôi tuôt!

         Cánh làm thơ bạn tôi: Hoàng Vũ Thuật Hải Kỳ Ngô Minh Đỗ Hoàng... rất khoái những câu thơ này của Mai-a.

       Một hôm lớp chúng tôi ngồi chờ thầy đã hơn 15 phút nhưng không thấy thầy Hiến tới. Cả lớp đoán non đoán già: Chắc là thầy bị ốm? Thế là lớp trưởng tìm đến nhà trọ của thầy xem thực hư. Hóa ra là thầy đi lạc! Hồi đó sơ tán lớp nằm rải rác trong xóm xóm rất nhiều ngõ ngõ nào cũng hao hao giống nhau mà thầy lại nổi tiếng đãng trí. Năm thứ tư chúng tôi được ưu tiên ăn chung một "bếp" với các thầy. Thầy Hiến đùa vui: "Thầy trò mình đều là những người cùng khổ". Ý thầy nói thầy trò cùng chung những bữa ăn đạm bạc trong thời buổi kinh tế  khó khăn. Hồi đó thầy hay mặc chiếc áo măng-tô-san màu "cháo lòng" nhưng phong thái hết sức ung dung đĩnh đạc.

        Cách đây mấy năm tôi có gặp lại thầy ở thành phố Đà Nẵng dịp thầy vào dự hội thảo Đổi mới giảng dạy Văn học hiện đại Việt Nam. Biết tôi ở Huế thầy hỏi bệnh tình của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi kể chuyện nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đang được một một bà lang khá  đẹp ở Khe Sanh chữa trị bằng nghệ thuật xoa bóp. Thầy cười: "Nếu được người đẹp xoa bóp thì mình cũng muốn ngả bệnh như Hoàng Phủ".

       

         Đã mấy chục năm nay chúng tôi - những cựu sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Vinh luôn dõi theo hành trình của thầy Hoàng Ngọc Hiến. Chúng tôi rất khâm phục và tự hào về thầy   về những đóng góp hết sức quan trọng của thầy trong việc thúc đẩy sự đổi mới của văn học nước nhà trong việc phát hiện và đào tạo những tài năng trẻ trong việc tìm tòi nghiên cứu về minh triết và minh triết Việt. Thầy mất đi là một tổn thất lớn cho nền văn học và minh triết nước nhà.



                                                                                    Mai Văn Hoan

More...

Mai Văn Hoan - thi sĩ của những bóng hồng

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Mai Văn Hoan - thi sĩ của những bóng hồng

(Cadn.com.vn) - Mỗi thi sĩ có một cõi đam mê riêng do số phận của họ quy định. Người thì suốt đời làm thơ ca ngợi cuộc sống; người chuyên triết lý cuộc đời. Nhà thơ Mai Văn Hoan thì hầu hết thơ dành tặng các nàng thơ. Có người đẹp anh tặng cả một tập thơ dày đến vài chục năm sau "người ta" vẫn thư từ qua lại rất tha thiết...

Đến nay nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 6 tập thơ trữ tình: Ảo ảnh (1988) Giai điệu thời gian (1989) Hồi âm (1991) Trăng mùa đông (1997) Giếng Tiên (2003) Lục bát thơ (2006 ) và 4 tập phê bình tiểu luận được bạn đọc chú ý. Những tập thơ Mai Văn Hoan là dấu ấn của những mối tình sâu đậm cũng có khi đơn phương nhưng vô cùng nồng cháy. Vừa dạy học vừa sáng tác mà có được số lượng tác phẩm như thế chứng tỏ nội lực của nhà thơ rất lớn.

Thời buổi tự bỏ tiền in thơ này hầu hết nhà thơ chỉ dám in 500 cuốn đã "toát mồ hôi hột" vì không bán hết thế mà thơ Mai Văn Hoan in tập nào cũng hơn 1000 cuốn rồi tái bản thêm ngàn cuốn nữa vẫn bán hết. Thơ Mai Văn Hoan thường gửi bán ở các nhà sách Huế Đà Nẵng. Có khi vợ nhà thơ còn treo tòng teng tập thơ của chồng bên cạnh những gói lạc rang mực nướng bánh phồng tôm ... trong quán xép của chị ở bên đường Ngô Quyền -Huế. Thế mà cũng có rất nhiều người mua. Có lẽ thơ tình tặng người đẹp nên hấp dẫn người đọc chăng?

Bìa tập thơ mới nhất của nhà thơ Mai Văn Hoan (ảnh nhỏ). 

Một điều lạ lùng nữa là thơ Mai Văn Hoan luôn được các bạn sinh viên học sinh đang tuổi yêu đương thuộc lòng và chép tặng nhau trong sổ tay học trò. Nhiều cô giáo dạy văn cũng mê thơ tình Mai Văn Hoan. Có cô còn cao hứng họa lại từng bài một sau khi đọc tập thơ Giai điệu thời gian của nhà thơ. Thơ Mai Văn Hoan thật thà bộc trực nhưng mạnh ở cái tứ cái tình. Cái tứ ấy bật lên rất bất ngờ sau đoạn kết. Bài thơ Trăng mùa đông là một ví dụ.

Sau các khổ thơ tự sự đến đoạn cuối  tác giả bỗng bật lên: Như quả chín hiếm hoi/Treo trên cây tháng chạp/... Chính tôi cũng không ngờ/Yêu vầng trăng se giá. Gặp người đẹp mê thơ trái tim Mai Văn Hoan thường dễ bị tổn thương bởi "tiếng sét ái tình". Thậm chí không gặp người chỉ nhận được những lá thư gửi từ "Quy Nhơn bé nhỏ" thôi anh cũng tương tư đầy ắp cả một tập thơ! Vì làm để tặng nên thơ Mai Văn Hoan thường dùng lối tự sự ngôn từ dân dã dễ hiểu đa số thơ anh viết theo lối bắt vần  của thơ truyền thống như  lục bát năm chữ bảy chữ ...:  Sao biển sẽ thay tôi/Ngắm nhìn em trang điểm/Sao biển sẽ thay tôi/Ngồi bên em trò chuyện... (Sao biển). Để có bài thơ này tác giả đã mang một cánh sao biển từ Huế nhảy xe tốc hành đi - về hơn 1.200km trong 2 ngày nghỉ cuối tuần để tặng người đẹp ở tận Nha Trang. Sống chết vì yêu vì thơ như thế mới đáng đồng tiền bát gạo!

Về thơ Mai Văn Hoan nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nhận xét tinh tế: "Viết về anh tôi như người tình chọn cây làm nơi hò hẹn để bàn chuyện thơ". Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Mai Văn Hoan "có lực đẩy của ngọn gió tàng hình mở ra cánh cửa giấu kín bao bí mật của tình cảm". Trong thơ tình Mai Văn Hoan có nhiều câu thơ ám ảnh người đọc như: Họ biết đâu tượng đá chết hai lần (Tượng đá); Hoa vàng quá bướm vàng không nỡ đậu (Màu hoa ấy) ...  Thơ Hoan được các "nàng thơ" cất giữ như của quý vì trong từng bài thơ câu thơ có tên tuổi từng người đẹp cụ thể lắm như: Cô bé Hiền và Thanh mảnh làm sao; Phương ấy nhiều Hoa sao tôi không biết; Đêm thầm gọi Hồng Nhung ơi!; Chiếc bình hoa anh cắm/Chỉ một nhành Cúc thôi...  Đó là sự bí ẩn đằng sau mỗi câu thơ mà chỉ tác giả hay người đẹp được tặng thơ "bật mí" người viết bài này mới biết...

Có nhiều nàng ở rất xa Huế như Bắc Giang Quy Nhơn Nha Trang Hà Nội... đọc trên sách báo cảm thơ Mai Văn Hoan và đã viết thư hò hẹn. Có nàng đã lặn lội về Huế thăm "chàng thơ". Nhịp tim Mai Văn Hoan cứ đập theo những cánh thư như thế rồi anh có thơ. Những vần thơ lặn sâu vào tâm hồn và ở lại dưới đáy va li của bao người đẹp.

Có một nữ thi sĩ nổi tiếng đã từng yêu Mai Văn Hoan. Anh cũng thừa nhận: Tâm hồn em là bờ vịnh xanh êm/Có đảo lạ trăng thanh và gió mát... Mai Văn Hoan sợ cái chất phong tình của mình sẽ khiến cho nữ thi sĩ đau khổ suốt đời nên anh bèn làm bài thơ "chia tay". Có lẽ đây là lần duy nhất Mai Văn Hoan rất tỉnh táo trong thơ trái ngược với khí chất đam mê tửu sắc của anh. 

Mai Văn Hoan là giáo viên dạy chuyên văn trường Quốc Học gần 30 năm nay vừa mới nghỉ đầu năm 2009. Anh giảng văn hay đến mức như mê hoặc học trò nhất là giảng về thơ Hồ Xuân Hương Nguyễn Công Trứ Hàn Mặc Tử... Đặc biệt là Nguyễn Du và Truyện Kiều. Mai Văn Hoan mê Kiều say Nguyễn Du. Ngày rằm tháng Giêng 1982 anh lặng lẽ một mình về Nghi Xuân viếng mộ Nguyễn Du. Ngậm ngùi nghĩ đến khúc Đoạn trường mà Thi hào để lại cho đời. Rằng "cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu". Đêm về nhà trọ nhà thơ làm được bài thơ Viếng mộ Nguyễn Du: Đìu hiu giữa cánh đồng Cùng/Một ngôi mộ nhỏ lạnh lùng khói hương/Đã đau mấy khúc Đoạn trường/Giờ nằm dãi nắng dầm sương một mình/Suối vàng mang nặng khối tình/Thời gian vẫn cứ vô tình đi qua...

Làm xong thơ rồi vẫn chưa nguôi cảm xúc anh đành chép gửi cho cậu học trò cưng cũ tên là Lê Viết Tường lúc ấy đang là sinh viên khoa Văn Đại  học Tổng hợp Huế. Thế là Tường nhảy tàu chợ ra Vinh. Hai thầy trò lại đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng về Khu lưu niệm Nguyễn Du ở Tiên Điền... Ở đó hai thầy trò đã đọc thơ viếng mộ Nguyễn Du cho nhà thơ Vương Trọng nghe. Có lẽ nhà thơ Vương Trọng đã lây cái cảm xúc buồn ở Tiên Điền đó mới có bài thơ Bên mộ cụ Nguyễn Du làm xôn xao dư luận một thời: Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây/Ngửng trời cao cúi đất dày/Cắn môi tay nắm bàn tay của mình/Một vùng cồn bãi trống trênh/Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề. 

Ngoài mảng thơ tình Mai Văn Hoan còn có một mảng thơ sâu sắc khác.  Đó là những bài thơ về đất nước về thời niên thiếu của Bác Hồ ở Trường Quốc học viết về cha mẹ bạn bè về nhân tình thế thái hay thơ thù tạc như các bài Trước nhà tù Lao Bảo Mộ gió Phủ Tùng Thiện Vương Trước mộ Trần Tế Xương Thăm nhà thơ Xuân Hoàng Mộ gió Viếng mộ Trịnh Công Sơn ... Đọc mảng thơ này mới hay Mai Văn Hoan cũng luôn trăn trở suy tư chuyện đời.

Ngô Minh

More...

Thầy giáo đi 1200 cây số

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Thầy giáo đi 1200 cây số tặng thơ cho người đẹp

Nhắc đến nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan nguyên giáo viên trường chuyên Văn Thừa Thiên Huế là nhắc đến những lứa học trò mê văn chương và rất nhiều câu chuyện cảm động bi hài...
                                                                                         

Đóng giả học sinh nghe thầy Hoan giảng Kiều

Thầy giáo Mai Văn Hoan và học trò
Thầy giáo Mai Văn Hoan và học trò

Mai Văn Hoan giảng văn nhất là giảng Truyện Kiều hay đến mức làm mê hoặc học trò. Nhiều giáo viên ở Huế vẫn bảo muốn học sinh yêu văn chương thì phải dạy như cách của thầy Hoan. Đó là lối dạy đầy cảm hứng truyền tải được nhiều cảm xúc tới học trò chứ không thụ động theo sách giáo khoa.

Nghe tiếng thầy Hoan có cô sinh viên Đại học Sư phạm Huế từng lẻn vào lớp thầy ở Quốc Học giả làm sinh viên thực tập để "mục sở thị" giờ giảng Kiều của thầy.

Sau đó cô đã viết thư cho thầy: "...Chiều hôm nay em đã đến học lén giờ giảng đoạn trích "Trao duyên" của thầy ở lớp 10.6. Em đã nói với lớp trưởng rằng em là sinh viên thực tập. Nhưng em lại mặc áo dài trắng để đóng giả học sinh. Em xin lỗi vì sự vô lễ và cách cư xử không phải của mình. Thưa thầy em đã nghe mọi người nói nhiều về thầy. Bên nhà trọ của em có một học sinh  Quốc Học. Hôm qua cô bé sang kể cho em: Khi giảng Truyện Kiều thầy đã khóc. Nghe chuyện em lại nhớ đến nhà thơ Bùi Giáng ngày trước cũng từng khóc cho cái chết của Từ Hải. Và em cảm kích vô cùng. Chính vì vậy em đã tìm cách đến nghe lén tiết giảng chiều nay của thầy. Có dự giờ thầy em mới  hiểu vì sao cô bé đang học ở lớp 10.6 lại khen thầy đến như thế. Em xin phép thầy cho em được giấu tên....".

Đi 1.200 cây số để tặng thơ cho người đẹp

Có một người đẹp ở Khánh Hòa đọc thơ Mai Văn Hoan ở trên báo tạp chí đã cất công ra tận Huế để được "chiêm ngưỡng" chân dung nhà thơ... Một hôm người đẹp nhắn tin báo sinh nhật của mình. Thế là nhà thơ họ Mai đã đi Thuận An tìm một cánh sao biển gói ghém cẩn thận với bài thơ "Sao biển" rồi tranh thủ hai ngày nghỉ cuối tuần nhảy xe đò đi về 1.200 cây số để mừng sinh nhật người đẹp ở tận Nha Trang: Sao biển sẽ thay tôi/ Ngắm nhìn em trang điểm/ Sao biển sẽ thay tôi/ Ngồi bên em trò chuyện...

Tặng thơ kiểu ấy người đẹp nào không "chết"!

Giành thơ với chuột đói

Năm 1979 thầy giáo Mai Văn Hoan được điều từ Cao đẳng Sư phạm Đồng Hới vào dạy chuyên văn ở Huế. Thời đó cuộc sống của giáo viên cam go lắm. Các thầy  thường đùa: giáo chức "nhức cháo" thầy giáo "tháo giày" nhà trường "nhường trà"... Mai Văn Hoan lại đưa hai cậu con trai đầu (đứa lên sáu đứa lên bốn) vào nuôi để san sẻ với vợ ở quê. Sổ gạo tem phiếu thực phẩm chưa nhập được. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ phải đứng ra quyên góp bạn bè người lon gạo người mấy đồng để giúp đỡ bố con Mai Văn Hoan.

Thời thầy Hoan ở trọ trên gác hai trường Hai Bà Trưng nhà thơ Xuân Hoàng đến chơi thấy cảnh bố con Mai Văn Hoan nước lọ cơm niêu cơ cực quá cảm động viết tặng bài thơ "Thầy giáo dạy văn": Hộ tập thể nằm trên gác xép/ Căn phòng thanh đạm có gì đâu/ Một chồng sách cũ dăm chai nước/ Một chiếc bàn con một bếp dầu...

a
Đi 1200 cây số để tặng thơ người đẹp


Hồi đó đến chuột cũng đói xoong nồi trong nhà thầy Hoan nhẵn bóng vì chẳng bao giờ có hột cơm thừa. Bởi vậy lũ chuột đành gặm... bản nháp thơ vừa để trên bàn. Nửa đêm thức dậy thấy bản thảo thơ bị gặm nhà thơ hốt hoảng giành thơ với lũ chuột. Và đêm đó Mai Văn Hoan viết bài thơ "Chuột đói"  rất xúc động: ...Đêm nghe tiếng sột soạt/ Tôi lén dậy bật đèn/ Hốt hoảng nhìn bản nháp/ Thấy chẳng còn vẹn nguyên/ Bài thơ vừa mới viết/ Nói chuyện đời sâu nông/ Chuột gặm mất đoạn kết/ Chừng đâu dăm sáu dòng/ Thế là tôi vội vội/ Giấu thơ vào ngăn bàn/ Chỉ sợ chú chuột đó/ Lại chén thêm đôi hàng...

Luận về chữ quỳ trong truyện Kiều

Thầy Hoan rất giỏi Kiều. Thầy giảng Kiều viết về Kiều từ những phát hiện của riêng mình. Ví dụ thầy đã phân tích tâm trạng của Kiều khi chia tay để Thúc Sinh về với Hoạn Thư qua bút pháp ước lệ của Nguyễn Du như thế này: Chàng Thúc đi rồi Kiều cứ nhìn theo mãi: "Dặm hồng bụi cuốn chinh an/ Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh". Nguyễn Du tả Thúc Sinh đi về gặp Hoạn Thư mà như đi ra chiến trận. Theo lôgic thì không thật đúng. Nửa năm ăn ở với Kiều giờ phải chia tay chàng bịn rịn lắm. Nếu có phi thì chàng cũng phi nước kiệu thôi. Làm gì có chuyện "bụi cuốn". Ngay cả khi chia tay Hoạn Thư vừa lên ngựa chàng đã "thẳng ruổi nước non quê người" chẳng thấy nhà thơ tả tí bụi nào. Cho dù "thẳng ruổi" là phi nước đại... Phi nước đại thì không có tí bụi nào còn phi nước kiệu thì "dặm hồng bụi cuốn"! Đây chính là cảnh được nhìn qua tâm trạng đầy lo âu của nàng Kiều: chàng Thúc đang đi vào cái nơi đầy gió bụi chẳng khác gì đang ra trận. Mà chàng đang "ra trận" thật. Bởi vì chàng sắp "chiến đấu" với Hoạn Thư - một cuộc chiến không cân sức giữa anh chồng nhát gan với một bà vợ đầy quyền lực đầy mưu ma chước quỷ! 
 

Độc đáo nhất là Mai Văn Hoan luận về chữ "quỳ " trong Kiều. Lâu nay nhiều người giảng Kiều đọc Kiều đều hiểu câu "Liều công mất một buổi quỳ mà thôi" là quỳ lạy van xin. Thầy Hoan lại hiểu khác. Thầy giảng: Trước khi giở trò đồi bại với Kiều Mã Giám Sinh tính toán "Mụ già hoặc có điều gì / Liều công mất một buổi quỳ mà thôi..." cho ta biết y rất hiểu tính nết của Tú Bà. Nghĩa là y đã phạm tội với mụ như thế khá nhiều lần. Vì thế y rất có "kinh nghiệm" trong việc "chạy tội". Y chỉ cần "quỳ" theo kiểu vợ chồng làm "chuyện ấy". Được cả một buổi "quỳ" như thế thì mụ Tú Bà thoả mãn quá rồi chẳng còn điều tiếng gì nữa. Hơn ai hết y biết rằng chỉ bằng kiểu "quỳ" đó may ra mới hạ hoả được cơn "tam bành" của mụ.

Đọc thơ tặng vợ trước tòa

Nhà thơ Mai Văn Hoan là người rất yêu vợ con. Cũng vì thơ tặng cô này cô khác mà  vợ ở quê nghi ngờ rồi đòi ly dị dù đã có với nhau bốn mặt con. Tại phiên tòa xử ly hôn Mai Văn Hoan đã chứng minh lòng chung thủy của mình bằng những bài thơ tặng vợ. Các quan tòa nghe thơ quên cả giờ giấc đến 12 giờ mới nghỉ. Nhiều vị còn nhờ thầy Hoan chép những bài thơ vừa đọc vào sổ tay. Thế là tòa phải dừng lại để hòa giải mấy phiên.

Đến phiên khác Mai Văn Hoan lại nghẹn ngào đọc bài  thơ "Trước lúc ra tòa": Vợ chồng mình có còn trẻ nữa đâu/ Mươi năm nữa trên vai đầy tuổi tác/ Đường lắm ngả nên đôi khi lầm lạc/ Hai chúng mình nên tha thứ cho nhau/ Bao lo toan tóc chớm bạc trên đầu/ Chua với ngọt chúng mình từng nếm trải / Chỉ còn đêm nay tôi khuyên mình nghĩ lại/ Tôi khuyên mình nên thương lấy các con/ Con chúng mình như những cánh chim non/ Vợ chồng bỏ nhau chim non vỡ tổ/ Sướng sung chi khi con mình chịu khổ/ Còn mẹ cha mà hóa trẻ mồ côi!

Bài thơ đã làm cho các quan tòa phải lau nước mắt.
 
Tiếc là thơ không cứu được Hoan. Ly dị rồi vợ mang hai con sang Viên Chăn nhưng tình cảm giữa hai người vẫn hết sức đằm thắm. Nghe nói bà vợ đi coi thầy thầy bảo: "Nếu không ly dị vài năm sau một trong hai người sẽ chết!". Thế là tin tại số phận chứ không phải sự "trăng gió thơ phú" của chồng.

Hoan lấy bà vợ khác tần tảo nắng mưa sinh được hai con kháu khỉnh. Khi cưới vợ cho cậu con trai thứ hai của cô vợ đầu ở Huế trong lễ cưới trên sân khấu phía nhà trai có 3 người: Mai Văn Hoan ở giữa và hai người vợ hai bên. Đến khi đi chào các bàn tiệc để quay phim chụp ảnh Mai Văn Hoan và hai bà vợ cũng đi  bên nhau tươi cười vui vẻ. Đó là đám cưới độc đáo nhất ở Huế từ mấy chục năm nay.

Mai Văn Hoan là rứa đó!

                                                                        NGÔ MINH



Nhà thơ Mai Văn Hoan đã in 6 tập thơ trữ tình: Ảo ảnh (1988) Giai điệu thời gian (1989) Hồi âm (1991) Trăng mùa đông (1997) Giếng Tiên (2003) Lục bát thơ (2006) và 4 tập phê bình tiểu luận.

Theo bee.net.vn

More...

Quan niệm về thơ của Hàn Mặc Tử

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Quan niệm về thơ của Hàn Mặc Tử
Bài viết được đăng lúc 9:59:52 AM 01.12.2010

Hàn Mặc Tử và những người tình trong thơ - Ảnh: Internet

MAI VĂN HOAN
Kỷ niệm 70 năm ngày mất Hàn Mặc Tử (11/11/1940 - 11/11/2010)

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí sinh năm 1912 mất năm 1940.
Quê Lệ Mỹ Đồng Hới Quảng Bình. Tổ tiên họ Phạm ông cố Phạm Nhương ông nội Phạm Bồi vì liên can quốc sự trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn. Cha là Nguyễn Văn Toản mẹ là Nguyễn Thị Duy.


Thuở nhỏ học ở Quãng Ngãi khi cha chết mẹ dọn về Qui Nhơn ở đây Hàn Mặc Tử tập làm thơ Đường luật (lúc 16 tuổi) lấy bút hiệu là Minh Duệ Thị. Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba ra Huế học tại trường dòng Pellerin. Hàn Mặc Tử đăng thơ trên báo Phụ Nữ Tân Văn Sài Gòn với bút hiệu Phong Trần. Thời gian này kinh tế gia đình sa sút. Hàn Mặc Tử đi làm Sở Đạc Điền một độ rồi vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936 khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn lấy bút hiệu Hàn Mặc Tử (Rèm Lạnh).

Nhà thơ Quách Tấn góp ý đổi thành Hàn Mặc Tử (Bút mực)
Tập thơ Đường luật mang tên "Lệ Thanh Thi Tập" có 3 bài
Thức Khuya Chùa Hoang Gái Ở Chùa được Phan Sào Nam họa vận lại. Năm 1936 tập thơ Gái Quê xuất bản là bước chuyển hướng sang Thơ Mới.

Cuối năm 1936 Hàn Mặc Tử đi chơi Huế Đà Nẵng Nha Trang Phan Thiết rồi định vào Sài Gòn tiếp tục làm báo thì phát bệnh nên về lại Quy Nhơn.

Cuối năm 1937 gom góp khoảng 50 bài thơ làm trên giường bệnh được Hàn Mặc Tử gọi là
Thơ Điên (gồm 3 phần: Hương Thơm Mật Đắng Máu Cuồng và Hồn Điên) mang chung một nhan đề: Đau Thương. Tiếp đến là Xuân Như Ý (1939) Thượng Thanh Khí (1940). Mùa hạ 1938 thấy bệnh tình khó qua khỏi gia cảnh càng sa sút Hàn Mặc Tử sau nhiều lần do dự đã quyết định vào bệnh viện phong Qui Hòa chữa trị và mất tại đó.
       


Hàn Mặc Tử có một vài lần bàn về thơ và người làm thơ. Theo thi sĩ thì "Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo"; "Tôi làm thơ nghĩa là tôi nhấn một cung đàn bấm một đường tơ rung rinh một làn ánh sáng"; "Nàng đánh tôi đau quá tôi bật ra tiếng khóc tiếng gào tiếng rú. Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi!" (Tựa Thơ điên); "Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt" (Quan niệm về thơ)... Riêng tôi tôi hết sức tâm đắc với câu: Máu đã khô rồi thơ cũng khô trong bài Trút linh hồn.
Hình như linh cảm trước cái chết một số nhà thơ đã soạn sẵn những lời di chúc. Puskin có Đài kỉ niệm Êxênin có bài thơ tuyệt mệnh viết bằng máu... Bài Trút linh hồn nằm trong tập Thơ Điên là một trong những tập thơ hay của Hàn Mặc Tử. Thơ Điên ra đời trong hoàn cảnh thi sĩ lâm vào căn bệnh hiểm nghèo cùng lúc mối tình đang nồng thắm bỗng "chết yểu". Đau thương chồng chất đau thương! Chính trong những tháng ngày bi đát ấy Hàn Mặc Tử dường như đã tiên cảm sự ra đi của mình nên đã viết sẵn những lời trăn trối nhắn gửi với người yêu đồng thời bày tỏ quan niệm về thơ của mình với mọi người.

Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Hàn Mặc Tử khẳng định một chân lí trong lĩnh vực sáng tạo thi ca bằng cách thơ hết sức giản dị. Chân lí ấy được đúc kết vẻn vẹn trong bảy chữ. Tôi đã đọc khá nhiều bài viết trao đổi về thơ gần đây. Ở những bài viết ấy tôi đã học được nhiều điều. Nhưng không hiểu sao tôi cứ ám ảnh bởi cách nói của Hàn Mặc Tử. Thi sĩ không lí luận dài dòng không làm ra vẻ cao siêu uyên bác mà nói một cách thật dễ hiểu thật ấn tượng: Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Có thế thôi nhưng để đúc kết được bảy chữ ấy Hàn Mặc Tử đã trải qua bao tìm tòi suy nghĩ trăn trở. "Máu" ở đây không chỉ là sự sống mà còn là sức sống là nhiệt huyết của người làm thơ đối với cuộc đời. Khi người làm thơ không còn nhiệt huyết nữa có nghĩa là anh ta nên gác bút. Vì nếu có gắng gượng viết thì cũng chỉ "đẻ" ra những xác chữ khô cứng mà thôi. Chữ có thể "bầu lên nhà thơ" khi chữ đó đã thấm qua "máu" chứ không phải là thứ chữ được chế tác bằng một trái tim nguội lạnh. Nếu chữ chỉ được chế tác bằng một trái tim nguội lạnh thì chẳng qua đó là mớ chữ vô hồn. "Máu" đúc nên chữ rồi chữ tạo ra thơ. Tất nhiên đã là nhà thơ đúng nghĩa thì không thể coi thường chữ nghĩa.
Hàn Mặc Tử nói: "Nàng đánh tôi đau quá tôi bật ra tiếng khóc tiếng gào tiếng rú". Điều đó có nghĩa là thơ phải xuất phát từ những cảm xúc chân thật. Cái dễ nhận nhất là sự giả tạo trong thơ. Có người chẳng đau đớn gì nhưng thấy thiên hạ rên mình cũng la oai oái. Những tiếng kêu giả khóc vờ ấy khó lòng qua mắt những độc giả tinh tường. Trong quá trình sáng tạo nhà thơ có thể bịa ra có thể tưởng tượng ra nhiều thứ. Nhưng phải bịa phải tưởng tượng trên cơ sở tình cảm chân thực. Lúc đó bịa tưởng tượng mới "như thật" và còn hơn "như thật" về mặt giá trị thẩm mỹ. Trong bài Trút linh hồn Hàn Mặc Tử viết: Ta trút linh hồn giữa lúc đây đó là điều thi sĩ tưởng tượng ra. Bởi sự thật thì mãi khi vào nhà thương Quy Hòa đúng ngày 11 tháng 11 năm 1940 Hàn Mặc Tử mới "trút linh hồn"... Thế nhưng người đọc vẫn tin sự tưởng tượng ấy là chân thực.

Phan Thiết! Phan Thiết! nhà thơ thả trí tưởng tượng bay bổng lên "chín tầng trời":
Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất
Và lùa theo không biết mấy là hương
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chặn đường
Chạm vào nhạc va nhằm thơ thiên cổ
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ
Sao tan thành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ... 

Cả bài thơ là tiếng rên "xuất phát từ bề sâu của một linh hồn tuyệt vọng" (Hoàng Diệp). Vì thế nó hết sức chân thực. Nỗi đau đớn trước mối tình "chết yểu" với Mộng Cầm đã khiến cho thi sĩ như điên như dại:

Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
...
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đưa tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi giọt lệ châu
                                                     (Những giọt lệ)

Và:
Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm
Nhớ thương còn một nắm xương thôi
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan.
                                          (Muôn năm sầu thảm)

Hàn Mặc Tử hết sức trân trọng thơ của Mai Đình chủ yếu cũng vì cảm xúc chân thực của nàng:
Thơ em cũng giống lòng em vậy
Là nghĩa thơm tho như ánh trăng
Mềm mại như lời tơ liễu rủ
Âm thầm trong áng gió băn khoăn.

Bởi thế mà thi sĩ:
Anh đã ngâm và đã thuộc làu
Cả người rung động bởi thương đau
Bởi vì mê mẩn vì khoan khoái
Anh cắn lời thơ để máu trào.
                                                    (Lưu Luyến)

Nguyễn Du tả tiếng đàn nàng Kiều trong bữa tiệc "mừng công" khi Hồ Tôn Hiến vừa giết Từ Hải: Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay. Máu nhỏ năm đầu ngón tay là Nguyễn Du tưởng tưởng ra nhưng rất chân thật vì Nguyễn Du đã nói được nỗi đau đớn tột đỉnh của nàng Kiều. Hàn Mặc Tử làm thơ bằng máu huyết của mình:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da.
                                          (Rướm máu)

Cả niềm yêu ý nhớ cả một vùng
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn
                    (Trường tương tư)

Nên hơn ai hết thi sĩ hiểu một cách sâu sắc rằng: Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Chân lí này không phải được đúc kết qua sách vở mà qua thực tế sáng tác của chính nhà thơ. Trái tim Hàn Mặc Tử chưa bao giờ lãnh cảm trước cuộc đời. Ngay đến giây phút sắp "trút linh hồn" thi sĩ vẫn yêu cuộc đời đến day dứt. Mặc dù cuộc đời đã đem đến cho Tử bao mùi vị cay đắng. Nói như ca dao:

Thương mình lắm lắm nhiều nhiều
Còn mình thương lại bao nhiêu mặc lòng.

Cuộc đời có cay nghiệt với Hàn Mặc Tử đến mấy thi sĩ vẫn cứ trìu mến vẫn cứ vấn vương vẫn cứ luyến tiếc:

Ta còn trìu mến biết bao người
Vẻ đẹp xa hoa của một thời
Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng
Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi!
                                                  
(Trút linh hồn)

Phải hiểu cảnh ngộ số phận của Hàn Mặc Tử ta mới thấy hết sự "trìu mến" ấy của thi sĩ đáng trân trọng biết chừng nào!

Và đây là lời nhắn gửi cuối cùng của thi sĩ:
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây.
Còn em sao chẳng hay gì cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày.
                                                  (Trút linh hồn)

Có bản chép Gió sầu vô hạn thổi trong cây là vô tình làm tổn hại thơ Hàn Mặc Tử. Gió sầu vô hạn thổi trong cây thì bình thường quá. Câu thơ đã bị tước mất sự sống. Gió sầu vô hạn nuối trong cây mới thể hiện được nuối tiếc hết sức đau đớn của nhà thơ trước giây phút từ giã cõi đời. Phải thật tâm huyết với cuộc đời này thi sĩ mới viết được những câu thơ gan ruột như vậy. Đúng là "Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt"!

Mấy năm lại đây chúng ta bàn nhiều về sự đổi mới của thơ. Cuộc sống thay đổi tất yếu thơ cũng phải thay đổi. Nhưng dù đổi mới thế nào đi nữa thì người làm thơ cũng phải có nhiệt huyết. Phải yêu ghét một cách chân thật. Nếu không có nhiệt huyết nếu sống một cách hời hợt giả dối thì nói như Hàn Mặc Tử: Máu đã khô rồi thơ cũng khô! Tôi cho đó là một quan niệm hết sức đúng đắn và sâu sắc mà những người làm thơ cần phải ghi nhớ.

M.V.H

(262/12-10)

Nguồn: Tạp chí Sông Hương

More...

Câu chuồn bầu

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Câu chuồn bầu

Ảnh: Minh họa
Ảnh: Minh họa
Thuở nhỏ tôi rất thích đi bắt chuồn chuồn. Trong tất cả những loại chuồn chuồn tôi mê nhất là chuồn bầu. Chuồn bầu bụng to cánh rộng mình dài màu xanh lá cây. Nó rất giống hình dáng chiếc máy bay "bà già". Chuồn bầu ít đậu như chuồn ớt chuồn kim chuồn đá... nên bắt được nó phải rất kỳ công. Lại nữa: Chuồn bầu đực thì nhiều nhưng chuồn bầu cái rất hiếm. Hoạ hoằn lắm mới bắt được một con...

Vì chuồn bầu ít đậu nên bọn trẻ quê tôi thường phải dùng cách "câu" mới bắt được chúng. Gọi là "câu" vì có cần có dây có mồi y hệt câu cá. Chỉ khác là cần câu nhỏ và ngắn hơn không phải buộc dây cước mà buộc chỉ không phải mồi giun mà là một con... chuồn bầu. Muốn câu chuồn bầu đực thì mồi phải là chuồn bầu cái. Chuồn bầu cái rất khó tìm. Tôi không biết thằng bé nào đã nghĩ ra được cái sáng kiến "hoá trang" khá thông minh: Lấy vôi bôi một lớp thật mỏng dưới phần bụng chuồn bầu đực. Mấy chú chuồn bầu đực "máu gái" rất dễ bị lừa. Câu chuồn bầu còn say hơn cả câu cá. Ăn cơm trưa xong là lũ chúng tôi đã rủ nhau lẻn ra mấy thửa ruộng hoặc ven bờ hồ để câu chuồn bầu. Câu chuồn bầu cũng phải có kinh nghiệm. Đầu tiên phải luyện cách đọc câu "thần chú": "Hu hu chuồn chuồn có khôn thì lại có dại thì bay". Đọc không cần to nhưng âm phải lan xa chuồn bầu mới nghe và tìm đến. Đưa cần câu cũng phải hết sức nhẹ nhàng uyển chuyển mới có thể dụ được đối tượng tiếp cận con mồi. Khi đối tượng đã bị con mồi "hớp hồn" thì phải xoay một vài vòng rồi chờ cho đến lúc "anh chị" dính chặt lấy nhau mới thả cần vồ bắt. Trong số chúng tôi Trần Mành là tay câu chuồn bầu thiện nghệ nhất. Trung bình mỗi buổi cậu ta câu được ba bốn chục con. "Kiểm kê" xong chúng tôi tiến hành "thả tù binh". Có "chàng" bị giam quá lâu nên khi được thả cứ bay loạng choạng trông rất tội. Nhưng cũng có chàng vừa được tự do là lao vút lên tận trời xanh. Cái giống chuồn bầu ngu hết chỗ nói. Đúng là đánh chết nết vẫn không chừa. Ngày hôm sau chính các "chàng" đã từng bị bắt làm "tù binh" ấy lại tiếp tục vương câu chẳng hề "rút kinh nghiệm" gì cả.

Bọn trẻ ở quê bây giờ không còn cái thú câu chuồn bầu nữa. Những trò chơi thôn dã như: đánh khăng đánh đáo đánh chuyền đánh chắt chơi ô ăn quan... cũng chẳng còn. Những thằng cu cái hĩm bây giờ đã có các trò chơi điện tử. Hoạ hoằn trung thu tết nhất thì đã có đồ chơi nhập ngoại ê hề. Ruộng đồng và ao hồ đã bị san lấp làm nhà cao tầng. Chuồn bầu đực chuồn bầu cái đã bay đi đâu mất. Mấy lần về quê tôi cố săn tìm mà không hề thấy bóng dáng một chú chuồn bầu nào...

Mai Văn Hoan

Bguồn : Báo Nam Định

More...

TÔI VIẾT BÀI THƠ NỮ SINH ĐỒNG KHÁNH

By Chủ bút: Mai Văn Hoan


TÔI VIẾT BÀI THƠ NỮ SINH ĐỒNG KHÁNH

Mai Văn Hoan


"Học trò trong Quảng ra thi / Thấy con gái Huế chân đi không đành". Nói đến con gái Huế là người ta nghĩ ngay đến nữ sinh của trường Đồng Khánh. Nữ sinh Đồng Khánh không chỉ thông minh xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Tôi có cái may mắn được tiếp xúc với một số bạn đồng nghiệp vốn là cựu học sinh Đồng Khánh. Đó là các cô Bích Đào Quý Hương Cẩm Tú Diệu Huyền Như Mai... Tôi thấy cô nào cũng dịu dàng đài các rất đa cảm nhưng vô cùng kín đáo tế nhị. Một bạn đồng nghiệp của tôi kể rằng thời nàng còn là nữ sinh Đồng Khánh đi học nàng không bao giờ đạp xe qua cầu Trường Tiền mà thường đi đò. Bến đò Thừa Phủ tấp nập những tà áo dài tím. Màu tím vì thế trở thành gam màu đặc trưng của Huế. Tà áo dài tím đã vương vấn tâm hồn bao nhiêu thi sĩ. Các nhà thơ Tố Hữu Xuân Diệu Huy Cận Lưu Trọng Lư Nguyễn Xuân Sanh...đều xiêu lòng trước nữ sinh Đồng Khánh. Nữ sinh Đồng Khánh trở thành nguồn cảm hứng của các thi nhân. Nếu không có Hoàng Thị Kim Cúc làm sao Hàn Mặc Tử viết được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ hay đến như vậy ? Mặc dù từ sau 1975 trường Đồng Khánh đã được thay tên và không còn dành riêng cho nữ sinh nữa nhưng những lớp chuyên Văn mà tôi giảng dạy hầu hết là nữ. Các em không mặc áo dài tím mà mặc áo dài trắng. Đó là điểm khác nhau của nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa và nữ sinh Đồng Khánh bây giờ. Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa ban cho tôi nụ cười ánh mắt một cách rất kín đáo. Còn nữ sinh Đồng Khánh bây giờ rụt rè mang tặng tôi tập thơ Dâng của Tago cùng với bài thơ tiễn tuổi mười sáu nhân sinh nhật lần thứ mười bảy bằng mực tím với nét chữ hết sức mảnh mai. Mùa đông nàng hay mặc chiếc áo len viền. Nhà nàng ở cạnh bờ sông. Trước sân nhà nàng có cây vú sữa...Và trong một khoảnh khắc loé sáng hai hình ảnh : nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa và nữ sinh Đồng Khánh bây giờ cùng đồng hiện trong tôi. Tôi vội vàng cầm bút viết luôn một mạch không hề tẩy xoá :   Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa  Xui hoàng hôn tím trang thơ học trò  Nữ sinh Đồng Khánh qua đò  Xui dòng Hương cất giọng hò xa xôi  Nữ sinh dạo chơi  Phấn thông vàng rãi ngát trời Thiên An...   Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa và nữ sinh Đồng Khánh bây giờ cứ ẩn hiện đan xen hoà lẫn trong suốt bài thơ... Tôi hết sức cảm ơn ngôi trường màu hồng xinh xắn nằm bên bờ sông Hương đã khơi gợi cho tôi rất nhiều cảm hứng. Tôi chỉ mong ước một điều làm thế nào Huế giữ được chất Đồng Khánh - nét đẹp riêng của con gái Huế. Và nếu được đề xuất một nguyện vọng thì tôi xin đề xuất trả lại tên trường Đồng Khánh. Bởi vì cái tên Đồng Khánh đã đi vào tâm thức của người Huế đã trở thành truyền thống văn hoá xứ Huế. Tôi tin sẽ có nhiều người ủng hộ đề xuất của tôi trong đó chắc chắn có những nữ sinh Đồng Khánh xưa và nay. (Mai Văn Hoan)  
 
  Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa
Xui hoàng hôn tím trang thơ học trò
 
 Nữ sinh Đồng Khánh qua đò
Xui lòng Hương cất giọng hò xa xôi
 
 
 
Nữ sinh Đồng Khánh dạo chơi
Phấn thông vàng rải ngát trời Thiên An
Trống trường Đồng Khánh vừa tan
Trên đường phơi phới từng đàn bướm bay
 
 
 Gió vờn tà áo khẽ lay
Nữ sinh Đồng Khánh thơ ngây mỉm cười
Bóng ai khuất nẻo phố rồi
Vô tư đâu biết có người nhìn theo
 
 Âm thầm một cánh phượng gieo
Nữ sinh Đồng Khánh trong chiều nhặt hoa
 
  Bâng khuâng ngắm áng mây qua
Cảm thông một cánh chim xa lẻ đàn
Mùa thu thả chiếc lá vàng
Nữ sinh Đồng Khánh mơ màng lắng nghe

Trầm ngâm trong quán cà phê
Nhạc buồn chạm mái tóc thề chấm vai
 
 
 Nữ sinh Đồng Khánh nhớ ai
Mi cong khẽ chớp mắt nai thẫn thờ
 
 Đâu còn là chuyện ngày xưa
Nữ sinh Đồng Khánh bây giờ là em.

                     Mai Văn Hoan

Nguồn : blog Cao Quảng Văn 360 Đ
 

More...

Riêng và chung trong thơ tình hiện đại

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Riêng và chung trong thơ tình hiện đại (1945-1975)
Bài viết được đăng lúc 3:01:15 PM 22.10.2010
Nhà thơ Mai Văn Hoan - Ảnh: truongquochochue.com
MAI VĂN HOAN

Theo thần thoại Hy Lạp vị thần đầu tiên xuất hiện trên thế gian là thần Ái tình. Thần Ái tình là một đứa bé có cánh với cây cung bên người ngọn đuốc cầm tay mang tình yêu đến với những trái tim. Tình yêu - nguồn đề tài không bao giờ cạn của văn học nói chung và thơ ca nói riêng.

Ở nước ta trong các tuyển tập thơ sau cách mạng đều có mặt những bài thơ tình. Những bài thơ ấy ngoài sự kết hợp nhuần nhuyễn nội dung và hình thức hiện thực và lãng mạn tình cảm và lý trí... còn có sự kết hợp hài hòa cái chung và cái riêng. Khảo sát mối quan hệ riêng chung bộ phận thơ tình 1945-1975 có thể rút ra được nhiều điều bổ ích. Qua việc khảo sát này phần nào giúp chúng ta hiểu thêm nguyên nhân thành công của những bài thơ tình được đông đảo bạn đọc ưa thích góp phần giúp chúng ta xác nhận thêm sự phát triển của nền thơ sau cách mạng và giúp chúng ta khẳng định vị trí những đóng góp quan trọng của bộ phận thơ tình đối với sự nghiệp cách mạng mà lâu nay chưa được chú ý nghiên cứu đánh giá đúng mức.

Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng nhưng cũng là một dân tộc "vừa nhân hậu lại đa tình đa mang" (Lâm Thị Mỹ Dạ). Trải qua bao nhiêu thế kỷ mặc cho sự cấm đoán của giai cấp thống trị phong kiến tiếng nói trái tim vẫn cất lên trong hàng nghìn bài ca dao với đủ mọi cung bậc: vui buồn sung sướng đau khổ nhớ thương hờn giận...

"Đôi ta xa nhau thiên hạ cũng đều buồn
Bốn phương trời chuyển động tám ngọn nguồn rung rinh
"

Đến giữa thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX khi ý thức về cá nhân đã được nâng lên trong văn học viết đề tài tình yêu mới được khởi sắc như những đóa hoa xuân. Nguyễn Du Phạm Thái là hai thi sĩ rất có công mạnh dạn thể hiện đề tài này. Tiếp theo những nguồn mạch trong mát ấy từ sau cách mạng 1945 bộ phận thơ tình trong nền văn học chân chính của chúng ta càng ngày càng trở nên phong phú đa dạng góp phần không nhỏ vào việc thể hiện tâm hồn con người Việt Nam vào những năm tháng đầy những biến cố lịch sử. Cái "tôi" của thơ tình sau cách mạng càng ngày càng vươn tới để hòa vào trong cái "ta" chung của mọi người của giai cấp của dân tộc của thời đại.

Ở những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chúng ta rất khó tìm thấy những bài thơ tình. Các nhà thơ lãng mạn có tên tuổi đi kháng chiến đang rất lúng túng "Cái phần công dân trong con người họ còn đứng tách riêng ra tụt lại sau nhìn ngắm tìm tòi" (Chế Lan Viên). Cái riêng còn bị "gạt phăng" còn bị xem là đối lập cản trở cái chung. Những người cầm bút chưa phân biệt thật rạch ròi những tình cảm chính đáng với những "tính riêng" cá nhân ích kỷ. Năm 1948 Nguyễn Đình Thi có bài "Không nói". Bài thơ kết thúc trong khung cảnh:

"Mưa rơi ướt mái đầu
Mỗi đứa một khăn gói
...
Nào đồng chí - bắt tay!
Em
            Bóng nhỏ
                        Đường lầy...
"

Chia tay anh vẫn gọi người yêu là "đồng chí". Tiếng "em" anh vẫn cố giấu kín trong lòng và chỉ khẽ gọi với theo khi bóng dáng người yêu dần khuất. Phải mấy năm sau Vũ Cao mới không ngần ngại đặt "em" ngang với "đồng chí": "Nhớ nhau anh gọi: em - đồng chí" (Núi đôi). Để được một câu thơ ta đọc cứ ngỡ rất bình thường như thế những người cầm bút phải tự vượt lên mình qua bao tìm tòi băn khoăn trăn trở. Hoàn cảnh khốc liệt của cuộc kháng chiến trong thời kỳ đầu dễ khiến người ta nén lòng mình lại. Cái riêng lúc này muốn hòa được vào cái chung đòi hỏi cần phải có thời gian đòi hỏi nhận thức phải được nâng lên để có thể so sánh mà không còn sợ ai bắt bẻ: "Anh yêu em như yêu đất nước"... ("Nhớ" - Nguyễn Đình Thi).

Sau khi hòa bình lập lại bước vào giai đoạn đấu tranh thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội thơ tình đã rút ngắn được tình trạng chệch choạc về sự hòa hợp riêng chung ở giai đoạn trước. Vào những năm 1956-1957 chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều bài thơ tình. Đáng chú ý nhất có lẽ là bài "Đêm sao sáng" của Nguyễn Bính. Nét quí ở bài thơ này là sự hòa hợp riêng chung nhuần nhuyễn đến mức khó lòng phân biệt nó với những bài thơ tình thuần khiết viết về nỗi nhớ tình yêu mà người đọc vẫn nhận ra bài thơ gắn rất chặt với công cuộc đấu tranh thống nhất:

"Sao đặc trời sao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em
."

Từ 1957 đến 1965 Huy Cận Xuân Diệu Chế Lan Viên Tế hanh... lần lượt công bố những "chùm nhỏ thơ yêu". Ngày trước Huy Cận ngắm người yêu ngủ và ru lời ru nghe buồn não nuột "Hồn anh đã chín mấy mùa thương đau". Giờ đây nhà thơ lại vẫn ngắm người yêu ngủ và ru lời ru không còn "ngậm ngùi" nữa mà ấm áp hơi thở của một người đang yêu cảm thấy tình yêu của mình gắn với tình yêu của mọi người: "Hai ta đôi hát giữa nghìn đôi" (Bài thơ anh viết). Ngày trước Chế Lan Viên chán nản đến mức muốn nhặt hết "hoa thơm muôn cánh rã" để "về đây đem chắn nẻo xuân sang". Giờ đây anh dí dỏm tuyên bố:

"Mặc kệ lời Phật dạy
Miếng tình ta cứ ăn
"
            (Đi trong hương chùa Hương)

Ngày trước Xuân Diệu yêu "vội vàng" bởi hoảng hốt trước thời gian trôi đi quá nhanh và tuổi già đến quá sớm. Giờ đây nhà thơ vẫn yêu say đắm nồng nàn nhưng không còn "vội vàng" nữa:

"Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
"
                        (Biển)

Đó là chưa kể "Chiêm bao" "Rét nàng bân" "Bài thơ tình Hàng Châu" của Tế Hanh; chưa kể những bài thơ "vượt tuyến" làm xôn xao cả nước của Giang Nam Thanh Hải của đồng bào Hơ-rê... như "Nhớ nhiều ơ nhớ lắm" "Quê hương"...

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thơ tình nói riêng và thơ nói chung lại tiến thêm một bước mới. Lúc này hơn lúc nào hết trách nhiệm công dân và say mê cá nhân để hòa chung làm một. Cái riêng và cái chung kết hợp một cách máu thịt. Người cầm bút có thể nói hết cái "tôi" riêng. Viết về buổi tiễn đưa nhà thơ không cần phải dấu những giọt nước mắt viết về nỗi nhớ tình yêu nhà thơ khai thác hết mọi khía cạnh. Người viết không còn né tránh khi nói đến đau thương mất mát. Ở "Quê hương" dù sao Giang Nam vẫn còn dè dặt đến "Bài thơ về hạnh phúc" Dương Hương Ly đã không e ngại khi viết "anh mất em như mất nửa cuộc đời" "như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc".

Phải chăng vì đã có một thời người ta khóc lóc quá nhiều trong các buổi tiễn đưa "những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt" nên thơ ca sau cách mạng khi cần diễn tả những xúc động trong các buổi tiễn đưa người viết thường dấu đi những giọt nước mắt? Lần đầu tiên trong thơ ca cách mạng có nước mắt của người vợ tiễn đưa chồng:

"Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
không dấu nỗi tình yêu cô rực cháy
không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời
"
                        (Cuộc chia ly màu đỏ)

Ngay từ "chia ly" trước đây người ta cũng tránh dùng Nguyễn Mỹ đã mạnh dạn dùng và dùng rất đúng chỗ nên đã có sức lay động sâu xa. Sự xuất hiện hàng loạt cây bút trẻ: Nguyễn Khoa Điềm Phạm Tiến Duật Phan Thị Thanh Nhàn Lâm Thị Mỹ Dạ... đã mang đến cho thơ tình chặng đường này một sinh khí mới. Nam nữ thanh niên trân trọng chép vào sổ tay và đọc đến thuộc lòng "Hương thầm" "Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây" "Khoảng trời yêu dấu" "Hương cau"... Xuân Quỳnh là một trong những cây bút trẻ viết khá nhiều thơ tình được bạn đọc ưa thích. Thơ Xuân Quỳnh vừa dào dạt sôi nổi vừa sâu lắng thiết tha:

"Những ngày không gặp nhau
Sóng bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ
."
            (Thuyền và sóng)

Phải thật hiểu giá trị của tình yêu chân chính Xuân Quỳnh mới viết được những câu thơ táo bạo như thế. Người đọc không chỉ cảm nhận ở những câu thơ này cái mãnh liệt của tình yêu hơn thế nữa đó là cái mãnh liệt của tình yêu con người đối với cuộc sống. Những câu thơ này không chỉ làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần mà còn có tác dụng nuôi dưỡng những tình cảm trong sáng. Riêng chung ở đây phải được nhìn dưới góc độ như thế. Nếu chỉ hiểu một cách đơn thuần máy móc sẽ dễ dẫn đến những hành vi những phán quyết thô bạo đối với những bài thơ vô tội này.

Sự hòa hợp riêng chung là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng của tác phẩm văn học. Nhìn lại những bài thơ tình thành công chúng ta nhận thấy rất rõ điều này. Vươn lên để đạt được sự hài hòa cao độ giữa cái chung và cái riêng phải chăng là một trong những hướng phấn đấu của thơ ca cách mạng hiện nay? Công bằng mà nói mặc dù đạt được một số thành tựu thơ tình của chúng ta so với nền thơ chung của thế giới đang còn có khoảng cách. Thơ tình của chúng ta còn thiếu cái chân thành đằm thắm cái dịu dàng tài hoa của thơ tình Puskin; cái phức tạp tinh tế nhiều tầng nhiều lớp của thơ tình Tagor; cái thông minh sắc sảo của thơ tình Gam-da-tốp. Một trong những nguyên nhân làm cho thơ tình chúng ta còn bị hạn chế là do quan niệm về cái chung và cái riêng của chúng ta tuy đã được nâng cao dần tuy đã được mở rộng dần nhưng vẫn còn gò bó. Nói chung thơ tình chúng ta còn để trống nhiều địa hạt nhiều cung bậc tình cảm. Dù sống trong cuộc sống mới không phải lúc nào tình yêu cũng diễn ra một cách bằng phẳng êm ả nhẹ nhàng tròn trịa. Thế nhưng thơ tình chúng ta nhìn chung vẫn còn tròn trịa êm ả nhẹ nhàng. Tình yêu trong xã hội mới không phải không còn những cơn sóng gió không phải không còn những sự phản hội những tính toán ích kỷ nhỏ nhen... Thơ tình chúng ta còn né tránh không dám hoặc không muốn đụng chạm đến những chuyện rắc rối trong tình yêu. Nhiều bài lắp ráp một cách gượng gạo cái chung và cái riêng đến trở thành công thức đơn điệu khuôn mẫu sao chép.

Quá trình hòa hợp riêng chung trong những bài thơ tình không chỉ chịu sự chi phối của biến cố lịch sử tình hình chính trị kinh tế; cơ cấu giai cấp... mà còn chịu sự chi phối của nhận thức chủ quan của tình cảm riêng tư. Thực tế sáng tác đã chứng minh rằng công của những phụ nữ từng làm trái tim các thi nhân rung động để viết nên những bài thơ tình rất lớn. Đọc tiểu sử của Puskin Lécmôntốp Aragông... chúng ta thấy rất rõ điều đó. Song khi tìm hiểu tác giả chúng ta lại rất ít đề cập đến những chuyện tình có thực ấy.

Đã đến lúc chúng ta không chỉ phủ nhận việc đề cao quá mức việc tuyệt đối hóa xem thơ tình là đề tài duy nhất của thơ ca mà chúng ta còn cần phải uốn nắn kịp thời những định kiến hẹp hòi sai lệch đối với nó.

Thơ tình quyết không chỉ là của riêng của bất cứ xã hội nào giai cấp nào thời đại nào mà là của chung nhân loại. Xã hội xã hội chủ nghĩa cũng nên và cần thiết có thơ tình của mình. Chúng ta cần quan tâm hơn nữa đời sống tình cảm của nam nữ thanh niên hiện nay! Sao chúng ta chưa làm tuyển tập chính thức về thơ tình? Sao các nhà thơ chúng ta chưa có một tập thơ nào viết riêng về đề tài tình yêu? Lẽ nào bây giờ vẫn chưa đến lúc? Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất Ximônốp vẫn cho xuất bản tập thơ tình "Bên em và xa em". Nhân dân Xô-viết nhận ra rằng: một tình yêu với nhiều sóng gió nội tâm những dằn vặt những nhớ mong hy vọng lại rất cần cho họ trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trên sách báo Trung ương cũng như địa phương biên tập đã có chú ý gia thêm "một chút thơ tình" song thơ tình chúng ta rõ ràng chưa đáp ứng được nhu cầu công chúng. Tình yêu luôn mới ở mỗi con người mỗi lứa tuổi mỗi thời đại lẽ nào vì người xưa làm nhiều bài thơ tình tuyệt vời rồi thế hệ chúng ta không nên làm thơ tình nữa như một số người quan niệm? Hãy để thơ tình nảy nở một cách tự nhiên đừng nên quá khắt khe với nó. Chống sự xâm nhập của văn hoá nô dịch đồi trụy bằng những biện pháp chính quyền không thôi chưa đủ. Cần phải có món ăn tinh thần thỏa mãn với những đòi hỏi chính đáng của công chúng. Vun trồng được một vườn thơ tình xã hội chủ nghĩa có nhiều "hương sắc" sẽ góp phần làm cho đời sống tâm hồn chúng ta càng thêm phong phú. Sẽ góp phần làm cho cuộc đời chúng ta thêm ý vị sẽ góp phần gạt bỏ dần thói dung tục thô lỗ ích kỷ... trong tình yêu của một số thanh niên hiện nay.

Trong "Người thoáng hiện" Tagor kể chuyện một tu sĩ khổ hạnh cố hành xác mình để mong sớm được lên thiên đường. Anh ta hành xác đến nỗi thần thánh đều kinh ngạc. Không ngờ những năm cuối của cuộc hành xác bỗng một cô hái củi đến và tìm cách hầu hạ anh ta. Khi cuộc hành xác hoàn thành vị chúa tể của những người bất tử báo cho anh ta biết rằng đã đến ngày chuẩn bị lên thiên đường. Người tu sĩ trả lời: đã lâu tôi không còn muốn lên thiên đường nữa. Qua câu chuyện này thi sĩ Ấn Độ muốn khẳng định sức mạnh của tình yêu. Với con người tình yêu là thiên đường nơi trần thế. "Không có gì của con người mà xa lạ với tôi"! Tình yêu là cái vô cùng thân thiết gần gũi của con người lẽ nào lại vắng bóng trong thi ca? Sự có mặt của gần 20 bài thơ tình trong tổng số 186 bài thơ được chọn ở tuyển thơ Việt Nam 1945-1975 của NXB Tác phẩm mới; phần nào chứng minh điều đó.

Tagor viết "Tôi đi tìm con nai vàng. Các bạn cứ cười đi nhưng tôi không vì thế mà kém đeo đuổi nó... Tôi chạy qua đồi qua thung tôi lang bạt trong những xứ lạ tìm con nai vàng" (Người làm vườn tình ái).

Con nai vàng - là đề tài tình yêu mà Tagor đeo đuổi. Thơ ca cách mạng chúng ta chẳng dại gì để sổng mất con nai vàng ấy!

Vinh 1982 Huế 1984
M.V.H
(7/6-84)

nguồn Tạp chí Sông Hương

More...

HIỂU ĐỜI

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

 

                                     HIỂU ĐỜI

                                                  Chu Dung Cơ

       Tháng ngày hối hả đời người ngắn ngủi thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản sống thoải mái.


            Qua một ngày mất một ngày.

            Qua một ngày vui một ngày.

            Vui một ngày lãi một ngày.


    Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác cảm nhận điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền càng không nên quá so đo nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân khi ra đời chẳng mang đến khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp rộng lòng mở hầu bao đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền đừng làm tôi tớ cho nó.

      "Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú". Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi hãy chia tay với "ông sư khổ hạnh" hãy làm "con chim bay lượn". Cần ăn thì ăn cần mặc thì mặc cần chơi thì chơi luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống hưởng thụ những thành quả công nghệ cao đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con địa vị là tạm thời vẻ vang là quá khứ sức khỏe là của mình.
Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.

Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ là niềm vui không mong báo đáp.

Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó làm cho cuộc sống vui hơn giàu ý nghĩa hơn.

     Cần có tấm lòng rộng mở yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống trông lên chẳng bằng ai trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư) biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê vui với chúng không biết mệt tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người vui vì làm việc thiện lấy việc giúp người làm niềm vui.

      Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến có thể yên lòng không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra ai cũng thế cả cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

      Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp cho gia đình cho con cái bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình quan tâm bản thân sống thế nào cho vui thì sống việc nào muốn thì làm ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác nên sống thật với mình.

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực thế nào cũng xong.

       Tuổi già tâm không già thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

       Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu.... Mọi thứ đều nên "vừa phải".

      Người ngu gây bệnh (hút thuốc say rượu tham ăn tham uống...).
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh).
Người khôn phòng bệnh chăm sóc bản thân chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống đói mới ăn mệt mới nghỉ thèm ngủ mới ngủ ốm mới khám chữa bệnh... Tất cả đều là muộn.

      Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực sống qua ngày với tâm lý bi quan sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.



Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng thua không cay chơi là đùa. Về tâm và sinh lý người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

       "Hoàn toàn khỏe mạnh" đó là nói thân thể khỏe mạnh tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng biết tự chủ biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu sẵn lòng giúp người có lòng khoan dung người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

       Con người là con người xã hội không thể sống biệt lập bưng tai bịt mắt nên chủ động tham gia hoạt động công ích hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội thể hiện giá trị của mình đó là cuộc sống lành mạnh.

      Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên nhiều màu sắc có một hai bạn tốt thì chưa đủ nên có cả một nhóm bạn già tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị nhiều màu sắc.

       Con người ta chịu đựng hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

        Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời đã đứng ở sân cuối tâm linh cần trong lành tinh thần cần thăng hoa người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa gặp lại người thân cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.

       Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

      Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.

More...