Đại hội Chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Đại hội Chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế
Ngô Minh ( 5/18/2010 3:02:14 AM )

                                                                                

         Ở Huế có một tổ chức cơ sở của Hội Nhà văn Việt Nam gọi là Chi Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập từ cuối những  năm 80 của thế kỷ trước. Chi Hội trưởng đầu tiên là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đến  nhiệm kỳ 2005-2010 là nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Ngày 16-6 vừa qua chi hội đã tổ chức Đại nhiệm kỳ  2010-2015. Tuy là Đại hội của một Chi hội nhà văn chỉ 15 người có mặt ( nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trọng bệnh nằm một chỗ nhà văn Văn Cầm Hải đi học ở Mỹ mấy năm nay nhà thơ Võ Quê  vợ ốm nặng ) nhưng báo cáo thảo luận bầu cử cũng rôm rả đàng hoàng lắm. Trưởng ban tuyên giáo tỉnh uỷ phó chủ tịch tỉnh đến dự suốt buổi. Nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng từ Hà Nội bay vào dự Đại hội và tranh thủ đi thăm các nhà văn đau yếu cao tuổi.

 Chi hội nhà văn Việt Nam ở Huế có 18 hội viên trừ Văn Cầm Hải và Trần Huyền Sâm dưới 4o tuổi còn lại đa số đều đã về hưu đau ốm bệnh tật thường xuyên như Nguyễn Quang Hà với siêu sắc thuốc bắc "thường trực" . Trong đó có 5 "cụ" trên 70 tuổi (Hồng Nhu Hoàng Phủ Ngọc Tường Nguyễn Đắc Xuân Nguyễn Quang Hà Nguyễn Khắc Phê Tô Nhuận Vỹ ); 9 "cụ" trên 60 tuổi. Nhưng họ vẫn đang là những cây bút chủ lực của Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế.  5 năm qua qua 18 hội viên đã có xuất bản trên 40 đầu sách với nhiều ngàn trang viết; trong đó có 8 tập thơ 25 tập văn xuôi 8 tập nghiên cứu phê bình văn học.  Các nhà văn viết rất năng nổ như Nguyễn Quang Hà năm nào cũng    một hai cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh. Nhà văn Tô Nhuận Vĩ cũng đang đánh vật với  tiểu thuyết Vùng sâu Nguyễn Đắc Xuân - viết nhiều cuốn sách nghiên cứu lịch sử về Huế Trần Thuỳ Mai - xuất bản 3 tập truyện ngắn về tình yêu. Ở tuổi 72   Nguyễn Khắc Phê vừa  ra mắt cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường dày 640 trang được dư luận cả nước đánh giá  rất cao. Nhà văn Hà Khánh Linh sau khi ra mắt tiểu thuyết Người kinh đô cũ lại đang miệt mài với cuốn tiểu thuyết mới. Mai Văn Hoan làm thơ tình viết cảm nhận văn chương hết cuốn này đến  cuốn khác. Nguyễn Khoa Điềm khi "hết quan hoàn dân" đã làm rất nhiều bài thơ tậm trang rất sâu sắc xuất bản thành tập thơ Cõi lặng . 

  Về mặt chất lượng nghệ thuật 5 năm qua văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường thơ của Nguyễn Khoa Điềm Lâm Thị Mỹ Dạ được tặng Giải thưởng Nhà nước. Thơ Ngô Minh được giải thưởng của UB toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.  Hoàng Phủ Ngọc Tường Nguyễn Khoa Điềm Trần Thuỳ Mai Lâm Thị Mỹ Dạ Ngô Minh Nguyễn Khắc Phê  được tặng giải thưởng Cố Đô lần thứ IV chiếm phần lớn các tác giả văn học được giải này. Truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai là một thương hiệu mạnh được dựng phim tái bản nhiều lần và dành giải cao nhất trong Giải "Cố Đô" vừa qua . Trong các đợt tặng thưởng hàng năm của Hội Liên hiệp VHNT Thừa Thiên Huế nhiều nhà văn của Chi hội cũng  có tác phẩm chất lượng được tặng thưởng. Ngoài sáng tác văn học các nhà văn như Nguyễn Khắc Phê Mai Văn Hoan Hà Khánh Linh Hoàng Phủ Ngọc Tường Ngô Minh có mặt xông xáo trên nhiều tờ báo của Trung ương và địa phương. Những bài bút ký chân dung tạp bút phê bình sách "chuyện văn chuyện đời"... đã và sẽ được tập hợp thành những tác phẩm được bạn đọc chú ý. Điều đáng quý là hầu hết nhà văn về hưu ngoài tiền lương không có thu nhập nào khác nghĩa là đời sống vẫn còn nhiều khó khăn lại gánh nặng tuổi tác bệnh tật  nhưng chưa có một ai buông bút tất cả đều có tác phẩm mới công bố. Hoàng Phủ Ngọc Tường  nằm một chỗ từ năm 1989 đến nay nhưng  anh vẫn  viết bằng cách đọc cho vợ hoặc người giúp việc chép. Thế mà  10 năm qua anh đã xuất bản thêm 5 tập bít ký và viết rất nhiều bài báo Tết. Đúng là gừng càng già càng cay. Các nhà văn Việt Nam ở Huế luôn coi trọng chất lượng tác phẩm chứ không chạy theo số lượng. Đó cũng sự tôn trọng bạn đọc đồng thời là sự tự trọng góp phần bảo vệ phẩm giá của danh hiệu "Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam"

  Để các nhà văn ở Huế yên tâm sáng tác trong  5 năm qua Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế đã được sự quan tâm của Tỉnh uỷ Uỷ ban Nhân dân Tỉnh và BCH Hội Nhà văn Việt Nam nhiều hơn trước. Cụ thể UBND Tỉnh đã cấp kinh phí cho Chi hội tham dự các đợt học Nghị quyết Đảng về VHVN và Tổng kết 50 năm văn học Việt Nam tại Thanh Hoá Quảng Bình; đặc biệt đã cấp 140 triệu đồng kinh phí để thực hiện một loạt phim chân dung nhà văn. BCH Hội Nhà văn Việt Nam đã quan tâm  cụ thể Chi hội Nhà văn ở Huế như  tham khảo ý kiến của Chi hội trong việc kết nạp Hội viên mới đầu tư sáng tác mời đại diện Chi hội tham dự các hoạt đồng cấp quốc gia như Hội nghị những người viết trẻ toàn quốc Hội thảo về Lý luận văn học và Hội nghị Quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới cấp "sinh hoạt phí" mỗi năm 5 triệu đồng để thăm hỏi hội viên và tổ chức các hoạt động tại địa phương. Sự phối hợp với Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Tạp chí Sông Hương và Hội Nhà văn Thừa Thiên  Huế cũng chặt chẽ hơn trước thể hiện trong các hoạt động hưởng ứng các kỳ Festival Huế Đêm thơ Nguyên Tiêu tổ chức Trại sáng tác và xét giải thưởng hàng năm Tạp chí Sông Hương đã liên tục giới thiệu chân dung các nhà văn thuộc Chi hội trong nhiều kỳ...

 Bản thân Chi hội Nhà văn 5 năm qua đã chú trọng tạo không khí trao đổi sáng tác và đoàn kết hiểu biết nhau Chi hội hàng năm thường tổ chức họp 2 lần luân phiên tại nhà riêng các nhà văn; cũng có khi kết hợp đi thực tế như thăm công trình Hồ Tả Trạch hay thăm gia đình anh Lê Quang Vịnh -  nhân cuốn sách viết về nhân vật đặc biệt này của Ngô Minh vừa hoàn thành. Gần đây trước thềm Đại hội Chi hội này đầu tháng 5/2010 với sự giúp đỡ một phần kinh phí của một "Mạnh Thường Quân" văn nghệ Chi hội đã tổ chức một chuyến hành phương Bắc- viếng mộ các nhà văn nhà thơ tiền bối như Tú Xương Nam Cao Nguyễn Bính thăm di tích nhà Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang (Thanh Hoá) như là  một cuộc  về nguồn...Chi hội đã tổ chức mừng thọ các nhà văn vào những năm tròn 60 70 hay 75 tuổi thăm các hội viên ốm đau hay có người thân qua đời. Ngoài ra với những trường hợp có quan hệ đặc biệt hay thân thiết tuy không phải là người thuộc Chi hội nhưng Chi hội cũng đã tổ chức thăm viếng như đã viếng các nhà văn nhà thơ Bùi Hiển Phạm Tiến Duật nhà thơ Nguyễn Trọng Bính thăm nhà văn Nhất Lâm vợ nhà thơ Võ Quê bị đau nặng ...

Đặc biệt đối với nhà thơ Hải Bằng và nhà thơ Thanh Hải Chi hội đã đề nghị và được BCH Hội Nhà văn Việt Nam giúp một phần kinh phí để in tuyển tập. Tuyển tập Hải Bằng đã được xuất bản rất trang trọng; với Tuyển tập Thanh Hải dự kiến sẽ xuất bản vào dịp kỷ niệm 80 năm sinh và 30 năm ngày mất của nhà thơ hiện Chi hội đã cử nhà thơ Mai Văn Hoan biên soạn xong nội dung và UBND Tỉnh cũng như BCH Hội Nhà văn đã quyết định hỗ trợ kinh phí đủ để in Tuyển tập và tổ chức lễ kỷ niệm. 5 năm qua Chi hội đã giới thiệu với Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp được 2 hội viên mới là nhà thơ Mai Văn Hoan và nhà  phê bình lý luận văn học Trần Huyên Sâm. Chi  hội rất  chú trọng  việc phát triển hội viên nhưng phải thừa nhận mộtt hực trạng chung là những cây bút mới ở Huế chưa có tác phẩm tạo được tiếng vang được dư luận toàn quốc chú ý (ví như dành những giải cao trong các cuộc thi truyện ngắn và thơ có tầm quốc gia) nên trong nhiệm kỳ qua việc phát triển hội  nhiên Hội Nhà văn Việt nam ở Huế chưa như mong đợi.

Sau khi được UBND Tỉnh hỗ trợ 140 triệu đồng Chi hội  đã ký hợp đồng với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Huế (HVTV) với phương thức mỗi bên chịu một nửa chi phí nhằm có thể làm được nhiều chân dung với số tiền ít. (Thông thường một phim khoảng 30 phút chi phí trên dưới 30 triệu đồng). Từ phương thức như trên  với sự giúp đỡ nhiệt tình của các đạo diễn cán bộ kỹ thuật HVTV với sự hợp tác có trách nhiệm của các nhà văn viết kịch bản lời bình phim như Nguyễn Quang Hà Ngô Minh Trần Thuỳ Mai Nguyễn Khắc Phê... chi hội đã thực hiện được 9 phim chân dung nhà văn là Hồng Nhu Hà Khánh Linh. Tô Nhuận Vĩ Nguyễn Quang Hà Nguyễn Khoa Điềm Võ Quê Nguyễn Khắc Thạch Trần Thuỳ Mai Nguyễn Khắc Phê và một phim tập thể với tên "Dòng Hương dòng văn chảy mãi". Do chưa đủ điều kiện làm phim chân dung cho toàn bộ các Hội viên Chi hội đã in sách "Chi hội nhà văn đôi nét chân dung" trích từ tiền làm phim chân dung còn lại khi kết thúc dự án làm phim chủ yếu để cung cấp cho những cơ quan cần liên hệ ở trong và ngoài nước. Dự định sẽ in tiếng Anh tập sách này chưa thực hiện được thiếu kinh phú và thời gian.

Điều đáng mừng là toàn bộ phim chân dung đã làm ngoài kế hoạch phát trên kênh HVTV ở Huế đều đã được phát nhiều lần trên VTV1 và cả VTV4 góp phần đáng kể giới thiệu hoạt động các nhà văn ở Huế và ít nhiều cũng đã góp phần "tuyên truyền" cho một vùng đất văn hoá đồng thời nâng cao vị thế của Chi hội. Đây là Chi hội Nhà văn cơ sở đầu tiên trong cả nước thực hiện được khối lượng phim chân dung lớn và có hiệu quả như thế. Do đó BCH Hội Nhà văn Việt Nam và Bảo tàng Văn học Việt Nam đã đồng ý "mua" lại toàn bộ các bản phim - tuy số tiền nhỏ nhưng có thể giúp CHNV có kinh phí làm tiếp một vài phim chân dung khác.  

 Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 8 sắp diến ra ở Hà Nội vào đầu tháng  8 tới nên Đại hội chi Hội nhà văn Việt Nam ở Huế lần này  như là một sự điểm danh . Đại hội đã bầu được một Ban thư ký mới  gồm 3 nhà văn Nguyễn Khắc Phê Trần Thuỳ Mai Mai Văn Hoan với sự tín nhiệm cao. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê làm chi hội trưởng . Tin rằng nhiệm ký 2010-2015 Chi hội sẽ làm được nhiều việc thiết thực hơn các nhà văn sẽ có thêm nhiêù tác phẩm văn học có giá trị và các hội viên cao tuổi bệnh tật sẽ được chăm sóc chu đáo để gừng càng già càng cay. 


Nguồn : vanvn.net 

More...

NGƯỜI TÌNH CỦA SÔNG HƯƠNG

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

QĐND - Thứ Năm 13/05/2010 10:3 (GMT+7)

 Sông Hương như một cô gái đẹp được nhiều người say mê. Một trong những "người tình" tri kỷ và thủy chung với sông Hương chính là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh từng gắn bó với dòng sông đã hơn bốn mươi năm nay. Càng ngày nhà văn càng khám phá thêm những vẻ đẹp hết sức quyến rũ của người yêu. Đó là vẻ đẹp thơ mộng và lãng mạn trầm mặc và huyền ảo mãnh liệt và dịu dàng... Có thể xem thiên bút ký "Ai đã đặt tên cho dòng sông" là tiếng lòng của nhà văn dâng tặng "người tình" mà nhà văn yêu một cách mê say đắm đuối.   

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ảnh: Thanh Trạch

Trong thiên bút ký này nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khi thì so sánh sông Hương với cô gái di-gan với Kiều; khi thì nhân cách hóa sông Hương "dịu dàng và trí tuệ" đang "nằm ngủ mơ màng"... Sông Hương qua ngòi bút thấm đẫm chất thơ chất trữ tình của nhà văn đã hóa thành một thiếu nữ Huế đa tài đa tình đa cảm... Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu sông Hương chẳng khác gì Nguyễn Du yêu nàng Kiều. Nhiều người mê đắm sông Hương ở "vẻ mặt kinh thành" còn Hoàng Phủ Ngọc Tường vì yêu sông Hương nên đã lặn lội trèo đèo vượt suối lần đến ngọn nguồn dòng sông để tìm hiểu quan sát và nhà văn ngạc nhiên bắt gặp "người tình" của mình vào cái tuổi "xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" không giống như nàng Kiều "âm thầm trướng rũ màn che" mà là "một bản trường ca của rừng già rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn... và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái di-gan phóng khoáng và man dại". Đây là bí ẩn đầu tiên của dòng sông được nhà văn khám phá. Hai nét tính cách đối lập của sông Hương dịu dàng và mãnh liệt đã hình thành "giữa lòng Trường Sơn" "dưới bóng cây đại ngàn" như thế nhưng đã mấy ai biết?

Trong hai nét tính cách ấy thì nét dịu dàng của sông Hương chỉ được  nhà văn tập trung làm nổi bật ở vóc dáng mềm mại và bước đi khoan thai nhẹ nhàng của "nàng": "Vừa ra khỏi vùng núi sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục vòng những khúc quanh đột ngột uốn mình theo những đường cong thật mềm... Sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm thật chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh...". Nét dịu dàng được tác giả đặc tả qua hình ảnh dòng sông như một cô gái đẹp "nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại".

Sự dịu dàng chỉ cần nhìn ngắm là có thể nhận ra nhưng tính cách mãnh liệt của dòng sông thì đòi hỏi phải có sự am hiểu thật tường tận về lịch sử và văn học mới phát hiện được. Nhà văn ngược dòng quá khứ và hình dung sông Hương "đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Ðại Việt qua những thế kỷ trung đại. Thế kỷ XVIII nó vẻ vang soi bóng Kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa. Và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng Tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển...". Tính cách mãnh liệt ấy của sông Hương chợt nhiên hùng tráng lên như kiếm dựng trời xanh trong khí phách của Cao Bá Quát. Phải nhạy cảm và tinh tế đến mức nào phải thấu hiểu sông Hương đến mức nào Hoàng Phủ Ngọc Tường mới diễn tả được nỗi lòng thầm kín của sông Hương với thành phố Huế thân yêu một cách lãng mạn và tài tình đến như thế. Nhà văn so sánh cặp tình nhân này với cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: Tìm kiếm và đuổi bắt hào hoa và đam mê thi ca và âm nhạc... và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở. Chỉ qua một khúc quanh một đường cong từ Cồn Giã Viên sang đến Cồn Hến mà nhà văn có thể lắng nghe "như một tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu...". Một sự liên tưởng hết sức bất ngờ mà nếu không thấu hiểu sự đa tình đa cảm của sông Hương của những người con gái Huế và ngọn nguồn sâu xa của văn hóa Huế thì không thể nào diễn tả được.

Tương tự như thế nếu không am hiểu những nét đặc sắc của văn hóa Huế nhà văn cũng không thể có cách lý giải khá độc đáo về nguồn gốc âm nhạc cổ điển Huế. Theo nhà văn thì toàn bộ nền âm nhạc ấy "đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này trong một khoang thuyền nào đó giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya...". Hoàng Phủ Ngọc Tường còn phát hiện vẻ đẹp trầm mặc như triết lý như cổ thi của sông Hương khi trôi giữa hai dãy đồi sừng sững qua  những điểm cao đột khởi những rừng thông u tịch những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu... Cùng với vẻ đẹp trầm mặc là vẻ đẹp biến ảo sương khói và huyền bí "vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được"...

Có thể nói với thiên bút ký tâm huyết này nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khái quát khá đầy đủ vẻ đẹp thiên nhiên Huế văn hóa Huế con người Huế một cách cô đọng giàu cảm xúc suy tư triết lý và hình ảnh.      


Nhà thơ Mai Văn Hoan
Nguồn báo QDND ct

More...

Võ Quê và thơ lái

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Thứ Hai 10/05/2010  11:35

Võ Quê và thơ lái

TP - Những năm gần đây ở Huế lưu truyền một số bài "thơ lái" khá độc đáo của Võ Quê. Những bài thơ này vừa có tính thời sự vừa hóm hỉnh ở nghệ thuật con chữ.

Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi/ Ngồi eo sèo với bao gian khó/ Gió khan đắng họng tái tê đời.

Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc.

Nhà thơ Võ Quê

Võ Quê không phải là người đầu tiên làm thơ lái. Ngay từ thời Trung đại nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng với một số câu thơ lái hết sức quái kiệt đáo để như : "Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo" hay "Trái gió cho nên phải lộn lèo"... Ở Huế thời Pháp thuộc có cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi cũng là một cây "lái thơ" khá nổi tiếng.

Trong dân gian vẫn lưu truyền một số câu thơ lái hết sức dí dỏm và sâu sắc của cụ. Chẳng hạn như: "Cầu đạo nên chi phải cạo đầu" "Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn" "Công khó chờ nhau biết có không" "Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông"...

Và đặc biệt là câu: " Thầy tu mô Phật cũng thù Tây". Sau khi cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi mất (1966) thơ lái tưởng như "đứt mạch". Thời Bình Trị Thiên một số nhà thơ như Xuân Hoàng Văn Lợi... chỉ nói lái trêu đùa nhau cho vui mà thôi.

Tôi còn nhớ một vài câu đại loại như : "Đi Cửa Lò bị cò lừa bác Hà Sâm suýt hầm sa" ; "Đi phong trào được trao phòng" ; "Ăn cháo lòng chống gió Lào"; LTM có bài thơ Những mùa trăng mong chờ khá nổi tiếng các anh lái thành Những mùa trăng mơ chồng ; bài Trăng mùa đông của tôi gửi báo nào cũng không thấy in các anh đổi thành Trông mùa đăng...

Theo nhà thơ Võ Quê cho biết thì mãi đến năm 1999 anh mới làm thơ lái. Đó là năm mà tỉnh Thừa Thiên Huế bị một trận lụt thế kỷ. Thấy chị em làm nghề ca Huế trên sông Hương phải ngưng hoạt động trong một thời gian khá dài để chống chọi và khắc phục hậu quả của trận lụt thế kỷ ấy nhà thơ bèn làm một bài thơ lái để đùa vui:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.

Cái tài của tác giả là sử dụng cách nói lái rất tự nhiên và rất phù hợp với hoàn cảnh tâm trạng của các ca sĩ lúc đó. Nghe Võ Quê đọc chị em không nhịn được cười. Bài thơ lái ấy của Võ Quê không cánh mà bay. Chỉ mấy hôm sau trong các quán cóc quán cà phê vỉa hè người ta đọc chuyền nhau: Trời lụt ca nhi cũng trụt lời...

Thành công bất ngờ ấy đã khích lệ tác giả làm thức dậy tiềm năng sáng tác thơ lái của anh. Võ Quê lần lượt "xuất bản bằng miệng" một loạt bài thơ lái cũng dí dỏm sâu sắc chẳng thua gì tiền nhân Thảo Am Nguyễn Khoa Vi.

So với một số thành phố khác trên cả nước thì Huế vẫn còn nghèo. Người Huế tự trào "Huế thơ Huế mộng Huế tòng bọng hai đầu". Nghèo nhất vẫn là dân vạn đò những người đạp xích lô xe thồ... Có người "chạy ăn từng bữa toát mồ hôi". Hơn ai hết Võ Quê hết sức thông cảm với hoàn cảnh đói nghèo của họ nhất là khi đồng tiền làm ra thì khó mà vật giá cứ ngày một "leo thang":

Vật giá leo thang gạo lỏng nồi
Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi
Ngồi eo sèo với bao gian khó
Gió khan đắng họng tái tê đời

Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc: hai chữ cuối câu đầu lái với hai chữ đầu câu hai hai chữ cuối câu hai lái với hai chữ đầu câu ba hai chữ cuối câu ba lái với hai chữ đầu câu bốn. (khác với kiểu lái trong từng câu mà cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi vẫn làm). Kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc này cực khó phải là bậc "cao thủ" mới làm được.

Đây là nỗi lòng của dân chúng khi giá xăng dầu tăng vọt:

Dầu xăng tăng giá dạ giăng sầu
Đầu tiên trăn trở bạc tiền đâu
Giật gấu vá vai theo vật giá
Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau

Không chỉ cảm thông với những người dân lao động nghèo khổ Võ Quê còn sử dụng thơ lái để chống tiêu cực. Anh biến thơ lái  thành một thứ vũ khí hết sức sắc bén đánh vào bọn tham nhũng:

Lần vô danh lợi hại dân lành
Tranh thùng   tranh thủ mới trung thành!
Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy
Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh

Ở bài thơ trên ngoài những cặp lái: tranh thùng - trung thành   đầy tớ - tờ đấy giành nhau - giàu nhanh tác giả còn sử dụng một loạt các phụ âm t tr th ở câu thứ hai và thứ ba tạo nên âm điệu rất đặc biệt.

Những thủ đoạn: tranh thùng (tranh phiếu) tranh thủ (nịnh bợ)... của bọn tham nhũng được tác giả lột trần không chút e dè ngần ngại. Bọn chúng là một lũ  thoái hoá biến chất:

Biến chất điếm đàng đi chiếm đất
Cánh đồng xoang bởi Kuán Đồng Xanh
Hối mại chức quyền gieo mối hại
Lanh mưu thoái hóa thật lưu manh!

Hầu hết thơ lái xưa nay đều sử dụng hình thức lái đôi (cặp hai chữ) ở bài thơ trên Võ Quê đã mạnh dạn thử nghiệm hình thức lái ba (cặp ba chữ): "cánh đồng xoang" - "Kuán Đồng Xanh".

Kiểu lái ba này cũng cực khó. Nếu tôi không nhầm thì nữ sĩ Hồ Xuân Hương chỉ sử dụng  một lần duy nhất kiểu lái cặp ba này trong bài thơ Quán Sứ: Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo.

Thơ lái Võ Quê không chỉ sâu sắc thâm thuý mà còn rất hóm hỉnh. Đây là bài thơ lái anh làm để trêu những cặp trai gái lỡ "ăn cơm trước kẻng":

Bầu trỏ hèn chi phải bỏ trầu
Bầu to nên mới tậu bò trâu
Quệt má vì yêu nên quá mệt
Bầu lên hạnh phúc được bền lâu

"Bầu trỏ" là mới có thai nên phải làm đám hỏi (bỏ trầu). "Bầu to" là cái thai ngày một lớn nên phải làm đám cưới (tậu bò trâu). Lỡ "quệt má"- nghĩa là lỡ làm cái chuyện ấy nên phải lo đám hỏi đám cưới thì "quá mệt" là phải. Nhưng cái thai càng lớn thì hạnh phúc càng "bền lâu". Đằng sau tiếng cười nhẹ nhàng là quan niệm rất nhân văn về tình yêu và hạnh phúc của tác giả.

Võ Quê còn làm thơ lái đùa các bợm rượu:

Một chai mai chột coi chừng!
Nhị chai nhai chị tưng tưng ngà ngà
Ba chai là bai nghe cha!
Bốn chai cẩn thận kẻo mà bái chôn
Ngũ chai ngai chủ hùng hồn
Sáu chai sai cháu bếp cồn luộc tôm!

Bài thơ này là một thể nghiệm nữa của Võ Quê. Hồ Xuân Hương Thảo Am Nguyễn Khoa Vi chỉ làm thơ lái theo thể đường luật và hầu hết là thất ngôn tứ tuyệt. Võ Quê mạnh dạn chuyển thơ lái sang thể lục bát. Bài thơ trên có tới 12 câu câu nào cũng có cặp lái đôi.

Quy luật lái khá linh hoạt. Câu một câu hai câu năm câu sáu là những cặp lái đôi liền nhau. Câu ba vế thứ hai được tách ra nằm xen giữa chữ "là" và "nghe": ba chai - bai cha. Câu  thứ tư tác giả đột ngột chuyển sang lái cách (hai chữ đầu lái với hai chữ cuối). Ở câu kết lẽ ra không được dùng vần "ôm" ở chữ thứ tám vì nó vần thông với chữ thứ sáu nhưng vần "ôn" và "ôm" đặt cạnh nhau nghe rất ngộ nghĩnh.

Bởi thế mà tác giả đã mạnh dạn phá lệ.  Ngồi trong chiếu rượu mà đọc bài thơ lái này không ai có thể nhịn được cười. Những lời nhắc nhở các bợm rượu thật dí dỏm mà cũng thật chí tình chí lý.

Cuối năm ngoái đầu năm nay chị Tiểu Kiều (vợ nhà thơ) không may lâm bệnh hiểm nghèo các cháu đang công tác xa một mình nhà thơ vừa chăm sóc vợ vừa làm công việc nội trợ. Cứ ngỡ anh không còn tâm trí thời gian để "lái thơ" nữa.

Vắng thơ lái Võ Quê dân quán cóc quán cà phê vỉa hè cảm thấy thiêu thiếu một cái gì. Không biết ai đó đã than rằng: Chưa về nhắm rượu làng Chuồn / Chưa nghe thơ lái sao buồn Võ Quê  (làng Chuồn nổi tiếng rượu ngon là quê của anh). Có lẽ hiểu được tâm trạng chờ đợi của người hâm mộ Võ Quê lại tiếp tục Tự trào bằng thơ lái: 

Cuối năm cắm cúi chăm nuôi vợ
Đầu năm mong vợ hết nằm đau
Số phận an bài ai bàn nữa!
Câu thơ Xuân đó có buồn đâu...

Và:

Vợ chồng là phải vọng chờ
Dạo một vòng chợ nên thơ vợ chồng

Trong khó khăn vất vả anh vẫn vui đùa tếu táo:

Cuộc đời thành một trò chơi
Khổ đau hạnh phúc là trời cho ta

Thơ lái cũng là một "trò chơi" mà "trời" đã ban cho Võ Quê. Bởi vì không phải bất cứ ai cũng làm được thơ lái vừa thông minh vừa hóm hỉnh vừa thâm trầm như anh.

Võ Quê được nhiều người biết đến với phong trào xuống đường của học sinh sinh viên các đô thị miền Nam (1966).

Anh từng bị kẻ thù bắt và giam ở nhà tù Côn Đảo. Những tháng ngày bị đày ải anh vẫn luôn giữ vững ý chí và niềm tin vào tương lai cách mạng.

Tập thơ Một thuở xuống đường (NXB Thuận Hoá 2001) đã ghi lại chặng đường lịch sử ấy.

Sau 1975 Võ Quê là một trong những người có công đầu trong việc phục hồi và phát triển nghề ca Huế trên sông Hương. Anh cũng đã xuất bản hàng chục tập thơ.

Huế tháng 4 - 2010

Mai Văn Hoan
Nguồn báo Tiền Phong ct

More...

Ai là người tri kỷ của Kiều?

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Home Văn hóa Tác giả - Tác phẩm Ai là người tri kỷ của Kiều?

Ai là người tri kỷ của Kiều?

Email In PDF.

kieu_tranhAi là người tri kỷ của nàng Kiều là một câu hỏi hết sức thú vị. Từ trước đến nay đã có không ít người đề cập đến vấn đề này. Căn cứ vào chữ nghĩa trong Truyện Kiều và những mối quan hệ tình cảm của nàng Kiều người thì nói đó là Kim Trọng kẻ thì cho đó là Từ Hải. Người thì quả quyết: chỉ có Thúc Sinh mới thực sự là tri âm tri kỷ của Kiều...

Người Việt Nam xưa nay thường dùng cụm từ tri âm tri kỷ để chỉ những đôi bạn hoặc những cặp vợ chồng "đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu". Đó là những đôi bạn những cặp vợ chồng hiểu nhau thương yêu nhau luôn quan tâm đến nhau tạo điều kiện và giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Tri âm tri kỷ đều những là từ Hán - Việt mang hàm nghĩa: người bạn tâm đắc thấu hiểu tâm tư tình cảm của mình. Bá Nha - Chung Tử Kỳ Lý Bạch - Đỗ Phủ Nguyễn Khuyến - Dương Khuê Xuân Diệu - Huy Cận... là những đôi bạn như thế. Được tin Dương Khuê mất Nguyễn Khuyến than thở: Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua/ Câu thơ nghĩ đắn đo không viết/ Viết đưa ai ai biết mà đưa... Tôi cho đó là những câu thơ thể hiện một cách đầy đủ sâu sắc tình bạn tri âm tri kỷ.
Từ quan niệm về tình bạn tình vợ chồng tri âm tri kỷ đi sâu tìm hiểu ai là người tri kỷ của nàng Kiều. Người đầu tiên phải kể đến là chàng Kim. Mối tình Kiều - Kim là mối tình đẹp nhất trong trắng nhất nên thơ nhất chung thuỷ nhất điều đó là lẽ hiển nhiên không cần phải bàn cãi. Nhưng Kim Trọng có thực sự là tri kỷ của Thuý Kiều hay không thiết nghĩ cũng nên xem xét lại. Chàng Kim Phong tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Mới gặp chàng lần đầu nàng Kiều đã xao xuyến rạo rực mơ tưởng: Người đâu gặp gỡ làm chi... Kiều yêu chàng đến mức "khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan"...Nhưng trong quá trình tiếp xúc giữa hai người theo tôi có ít nhất ba lần Kim Trọng tỏ ra chưa thật hiểu nàng Kiều. Lần thứ nhất là lúc chàng nghe nàng đánh đàn: Khi tựa gối khi cúi đầu/ Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. Kiều vừa đàn xong Kim Trọng "góp ý" ngay: Rằng hay thì thật là hay/ Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào/ Lựa chi những khúc tiêu tao/ Dột lòng mình lại nao nao lòng người.
Nếu thực sự hiểu nội tâm của Kiều hiểu sự tiên cảm của Kiều chắc chàng không nhận xét và khuyên bảo một cách nông cạn như thế. Lần thứ hai là khi "sóng tình dường đã xiêu xiêu" Kim Trọng đã có những cử chỉ hành động "ra chiều lả lơi" với Kiều. May mà Kiều kịp thời ngăn chặn: Thưa rằng đừng lấy làm chơi/ Dẽ cho thưa hết một lời đã nao... Điều đó cũng chứng tỏ Kim Trọng chưa thật hiểu Kiều chưa thật sự tôn trọng Kiều. Nàng phải buộc lòng dạy cho chàng bài học về "đạo tòng phu". Lần thứ ba là khi hai người gặp nhau sau mười lăm năm xa cách để giữ thể diện cho chàng và không muốn mang tấm thân ô nhục của mình vấy bẩn đời chàng nên nàng quyết định "đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ". Ấy thế mà trong cái đêm động phòng Kim Trọng vẫn cố kèo nài nàng để làm "chuyện ấy". Một lần nữa buộc lòng Kiều phải tìm lời lẽ thuyết phục: Người yêu ta xấu với người/ Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau/ Cửa nhà dù tính về sau/ Thì còn em đó lọ cầu chị đây/ Chữ trinh còn một chút này/ Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan/ Còn nhiều ân ái chan chan/ Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi... Bấy giờ Kim Trọng mới ân hận và thú nhận là mình đã hiểu sai về nàng: Chừng xuân tơ liễu còn xanh/ Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân... Vì những lẽ trên nên theo tôi Kim Trọng chưa thật xứng đáng là người tri kỷ của Kiều.
Người thứ hai là Thúc Sinh. Mối tình Thúc Sinh - Thuý Kiều không đẹp không trong trắng bằng mối tình Kim Trọng - Thuý Kiều. Nhưng bù lại Thúc Sinh có lẽ là người tình có nhiều điểm tương đồng với Kiều hơn cả. Thúc Sinh chính là người đã "phục sinh" cho Kiều. Hoàn cảnh đưa đẩy vào chốn lầu xanh Kiều xem như mình đã chết: Mặc người mưa Sở mây Tần/ Riêng mình nào biết có xuân là gì và Vui là vui gượng kẻo là/ Ai tri âm đó mặn mà với ai. Mặc dù khách làng chơi toàn cỡ Tống Ngọc Tràng Khanh nhưng duy nhất chỉ có Thúc Sinh là chinh phục được Kiều: Sớm đào tối mận lân la / Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.../ Miệt mài trong cuộc truy hoan/ Càng quen thuộc nết càng dan díu tình.
Làm xiêu lòng một cô gái còn ngây thơ trong trắng không khó phục sinh một phụ nữ mà cõi lòng đã băng giá còn khó hơn nhiều. Nếu không thực sự tài năng và có tấm lòng chân thực không thể làm được. Về tài cầm kỳ thi họa thì chỉ có Thúc Sinh là sánh được với Kiều. Hai người vẫn thường chơi cờ họa đàn với nhau (Kim Trọng chỉ có nghe chứ chưa bao giờ họa đàn với Kiều). Làm thơ hay như nàng Kiều (Ví đem vào tập đoạn trường/ Thì treo giải nhất chi nhường cho ai) thế mà phải bái phục Thúc Sinh. Nàng khen thơ chàng "lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu". Và kiếm cớ "lòng còn gởi áng mây Hàng" (nhớ cha mẹ) nên "họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay". Thế mới biết Kiều rất nể phục Thúc Sinh (Kim Trọng chỉ làm quan chứ không hề thấy làm thơ).
8-kieuNếu không thực sự thương yêu Kiều dại gì Thúc Sinh phải vung tiền cứu Kiều ra khỏi lầu xanh và quyết chí lấy nàng làm vợ. Những ngày tháng sống với chàng Thúc là những ngày tháng nàng Kiều hết sức hạnh phúc "hương càng đượm lửa càng nồng". Vì thế nên khi chia tay Thúc Sinh Kiều cảm thấy vô cùng cô đơn trống trải: Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi/ Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường... Nếu Thúc Sinh nghe lời Kiều thú thực với Họan Thư mọi chuyện chắc sẽ khác. Việc không làm theo lời dặn của Kiều chứng tỏ Thúc Sinh cũng không thực sự hiểu Kiều cộng với tâm lý khiếp sợ trước thế lực gia đình Họan Thư đã phá hỏng tất cả. Thúc Sinh bỏ mặc Kiều bơ vơ một mình trong cơn họan nạn: Liệu mà xa chạy cao bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi! Như vậy Thúc Sinh đâu có xứng đáng là người tri kỷ của Kiều.
Người thứ ba là Từ Hải. Không dềnh dàng "sớm mận tối đào" như mối tình Thúc Sinh - Thuý Kiều. Từ Hải - Thuý Kiều vừa mới gặp nhau đã "hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa". Chỉ nghe Kiều nói một đôi câu khiêm nhường là Từ Hải đã "vừa ý gật đầu" và xem Kiều là người "tri kỷ" của mình ngay. Có người nói đây là mối tình "sét đánh". Thực ra Từ Hải đến với Kiều chỉ vì sắc đẹp ‘nghiêng nước nghiêng thành" của nàng. Còn Kiều đến với Từ chủ yếu là tìm thấy ở Từ một chỗ dựa vững chắc cho cuộc sống trôi nổi bấp bênh của mình. Không như Thúc Sinh - Thuý Kiều cặp Từ Hải - Thuý Kiều gần như là sự tương phản. Từ Hải "vai năm tấc rộng thân mười thước cao" còn Kiều thì "liễu yếu đào tơ"; Từ Hải "thanh gươm yên ngựa" còn Kiều thì "cầm kỳ thi họa"; Từ Hải bộc trực nói năng có phần bỗ bã "mắt xanh chưa để ai vào có không ?" còn Kiều thì nói năng nhẹ nhàng bóng bẩy chữ nghĩa "Tấn Dương được thấy mây rồng có phen"... Qua cuộc đối thọai giữa Kiều và Từ Hải trong lần Kiều thuyết phục Từ Hải ra hàng ta thấy độ vênh rất lớn giữa hai người. Từ cho rằng: Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phận mình ra sao/ Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ Vào luồn ra cúi công hầu mà chi/ Sao bằng riêng một biên thuỳ/ Sức này đã dễ làm gì được nhau... Trong khi đó Kiều lại khuyên Từ nên về với triều đình: Sao bằng lộc trọng quyền cao/ Công danh ai dứt lối nào cho qua ? Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ thấy họ không phải là những người "đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu". Việc Nguyễn Du không lần nào tả nàng Kiều đàn cho Từ Hải nghe chắc cũng có lý do của nó. Phải chăng vì Từ không phải là một Chung Tử Kỳ ? Từ Hải là ân nhân hơn là người tri kỷ của Kiều.
Vậy chẳng lẽ không có ai thật sự là người tri âm tri kỷ của Kiều ? Xin thưa: có đấy! Theo tôi người đó không ai khác ngoài đại thi hào Nguyễn Du. Nhà thơ là người hiểu Kiều hơn ai hết thương Kiều hơn ai hết. Chính Nguyễn Du là người cảm nhận hết vẻ đẹp hình thể tuyệt vời của nàng Kiều: Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một toàn thiên nhiên. Chính Nguyễn Du hiểu và thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp tâm hồn của Kiều. Đó là đức hy sinh tâm hồn đa cảm tình yêu thuỷ chung tấm lòng vị tha của nàng. Nguyễn Du rất khâm phục tài làm thơ tài đàn của Kiều. Và không ai thấu hiểu và cảm thông với những nỗi đau khổ mà Kiều phải chịu đựng như Nguyễn Du. Nhiều lần ông đã lên tiếng bênh vực cho nàng: Thịt da ai cũng là người/ Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau! Tố Hữu có một câu thơ rất nổi tiếng "Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều". Nguyễn Du đã khóc thương nàng Kiều như khóc thương một người bạn tài hoa bạc mệnh. Phải đồng cảm với Kiều đến mức nào nhà thơ mới viết được những câu xé ruột xé lòng: Tuồng chi là giống hôi tanh/ Thân ngàn vàng để ô danh má hồng/ Thôi còn chi nữa mà mong/ Đời người thôi thế là xong một đời! hoặc Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường/ Mặt sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy thân...
Bạn bè thì nhiều nhưng người thật sự tri âm tri kỷ rất hiếm. Gặp được người bạn tri âm tri kỷ là niềm hạnh phúc không có gì sánh được. Thật bất hạnh cho những ai trong đời không có bạn tri âm tri kỷ. Nàng Kiều đã may mắn gặp được Nguyễn Du như là sự bù đắp những nỗi khổ đau mà nàng từng chịu đựng. Và theo tôi hai câu: Mấy lời tâm phúc ruột rà/ Tương tri dường ấy mới là tương tri nàng Kiều nói với Nguyễn Du có lẽ phù hợp hơn là nói với chàng Kim./.


Mai Văn Hoan
Nguồn :Tạp chí NGày Nay)

More...

TÌM ĐƯỢC BÀI THƠ “TRỐI” CỦA PHƯƠNG XÍCH LÔ

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

  T

 TÌM ĐƯỢC BÀI THƠ "TRỐI" CỦA PHƯƠNG XÍCH LÔ


        Tôi còn nhớ vào một đêm đầu tháng 12 - 1995 tôi đi dạy thêm đang trên đường về thì gặp Nguyễn Văn Phương. Phương vừa trả khách ở bệnh viện Trung ương Huế xong. Thấy tôi Phương đột ngột phanh xe hớn hở nói to :
        - Anh Mai Văn Hoan !  Ta đi làm vài xị nói chuyện tào lao cho vui anh hè.
        Tôi vui vẻ gật đầu. Hai chúng tôi ghé vào quán bác Trưng nằm ngay trên đường Ngô Quyền (đối diện với Đài Truyền hình HVT). Tôi gọi mấy xị rượu và  một đĩa đồ mồi bình dân (gân và củ kiệu). Đêm đó Phương nói chuyện rất có hứng. Tôi đặc biết xúc động khi nghe Phương đọc bài thơ Trối. Tôi lục tìm trong cặp lấy một tờ giấy khổ rộng đưa cho Phương chiếc bút bi và nhờ Phương chép tặng. Phương phóng bút theo kiểu thư pháp viết tràn lên cả hai mặt giấy. Tôi và Phương chia tay nhau trong trạng thái ngà ngà. Về đến phòng tôi cất bài thơ của Phương vào quyển sách nào tôi không nhớ nữa. Một đôi lần đặc biệt là sau ngày Phương mất (2 - 6 2002) tôi cố lục tìm lại bài thơ ấy của Phương nhưng không sao tìm được. Đọc tập thơ Chở gió của Phương cũng không thấy bài thơ ấy. Tôi cứ nghĩ bài thơ đã bị thất lạc. Tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ...
         Không ngờ trong những ngày giáp tết Canh Dần (2010) tình cờ mở tập Chân trời cũ của Hồ Dzếnh đọc lại bỗng nhiên tôi thấy bài thơ Trối của Phương. Tôi run lên vì sung sướng ngỡ như được gặp lại Phương cùng Phương uống rượu và nghe Phương đọc thơ ở quán bác Trưng trên đường Ngô Quyền đêm nào... Trang giấy đã ố màu thời gian. Một đôi chữ Phương phóng bút nên rất khó đọc. Tôi phải cố nhớ dần dần và khôi phục tương đối chính xác toàn bội bài thơ.
       Bài thơ này theo như lời anh Nhất Lâm là không hề thấy trong di cảo của Phương. Anh cũng đã từng nghe Phương đọc bài thơ này đâu đó đôi lần khi hơi men đã ngấm. Anh chỉ nhớ mang máng rồi phỏng tác một vài câu đưa vào trong truyện ngắn của mình.
       
      Sau đây là bài thơ Trối của Nguyễn Văn Phương (Phương Xích Lô) :
                                        
                                           
                                         TRỐI
                                               
                                                 Chép tặng anh Mai Văn Hoan


Mai ta chết
                   mồ kia xanh ngọn cỏ
Những mùa thu
                         vẫn lặng lẽ đi qua
Có chiếc lá nào
                        rơi
                              trên bia mộ
Ai chôn giùm xác lá
                                 cạnh bên ta !


Mai ta chết
                  có ai cười ai khóc
Trong tận cùng sâu thẳm
                                        ta nằm nghe
Có ai đến bên ta ngồi đọc
            lời thơ tưởng niệm gọi ta về...


Mai ta chết
                   Có ai lên đó hỡi
Trên mồ ta
                  chỉ
                                quạ rú
                                          thông reo
Đè lên ta
                Những tháng ngày
                                         ớn lạnh
Giữa bồn bề
                    nghĩa địa
                                     đìu hiu...


                      Huế 1 - 12 - 1995

                       Phương Xích Lô

More...

TÔI ƠI ! *

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

 

TÔI ƠI ! *

      
    Tiễn biệt nhà thơ Nguyễn Trọng Bính


Tôi ơi tôi ở mô rồi ?

Vẳng nghe tiếng nói tiếng cười đâu đây...

Hay là tôi trốn vào cây ?

Tôi hoà vào gió? Vào mây ? Vào trời ?


Miền Trung - quê của tôi ơi !

Gió lào khô khốc bom rơi đạn cày...

Nhúm rau chôn ở đất này

Tương cà khoai sắn... tháng ngày nuôi tôi

Chắt từ máu từ mồ hôi

Cho cây đời mãi đâm chồi nở hoa

Hà Tĩnh ca Thiên Cầm ca...

Thơ tôi chân chất thật thà như tôi.


Giọt sương hay giọt lệ rơi ?

Mà đất nghèn nghẹn mà trời rưng rưng...

                   
                    
Huế 4 - 4 - 2010

                     

                      Mai Văn Hoan


*
Tên tập thơ chọn của Nguyễn Trọng Bính NXB Hội Nhà văn 2010

More...

MÙA TIM HOA SIM

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

MÀU TÍM HOA SIM VÀ LỜI BÌNH CỦA MAI VĂN HOAN


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương
Người vợ chờ
                   bé bỏng
                             chiều quê...
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây  quanh.

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Ao nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
Một mình
                 đèn khuya
                                bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
                                        ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông...
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa :
" Ao anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu..."

                                       Hữu Loan


Lời bình
 
   Thời đó là chiến tranh chống Mỹ tôi sắp sửa vào tuổi mười bảy đang học cấp III trường huyện. Một hôm cậu bí thư chi đoàn kéo tôi ra một góc nói nhỏ: Có người vừa phát hiện trong sổ tay văn học của Hoan có chép một bài thơ phản động của bọn Nhân văn giai phẩm". Mặt tôi tái đi toàn thân run lẩy bẩy. Trái tim non dại của tôi vô cùng hoảng hốt. Thời đó nghe hai từ "phản động" không chỉ trẻ con mà người lớn cũng sợ. Tôi chạy một mạch về nhà trọ lục tung sách vở nhưng tìm mãi vẫn không thấy cuốn sổ tay văn học đâu cả. Hai hôm sau thầy giáo chủ nhiệm mới trả lại cuốn sổ cho tôi. Thầy dặn: "Em hãy thận trọng khi sưu tầm thơ chép vào sổ. Không nên chép những bài thơ đã phản động...". Tôi run run cầm lại quyển sổ. Mở sổ lướt qua các trang tôi thấy bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan bị gạch chéo và ghi bên cạnh "thơ phản động". Tôi vội vàng xé trang thơ ra khỏi sổ vò lại và đốt đi. Nhưng cũng từ đó những câu thơ trong Màu tím hoa sim cứ ám ảnh tôi. Âu cũng là kỷ niệm một thời...
   Bây giờ đọc kỹ lại Màu tím hoa sim tôi thấy Hữu Loan có lối viết khá hiện đại với giọng thơ tự do phóng khoáng câu thơ dài ngắn chen nhau. Tác giả viết theo cảm xúc   có vần có điệu nhưng không quá câu nệ vào vần điệu. Màu tím hoa sim không chỉ mới về cách thể hiện mà còn có những nét khác biệt về nội dung so với những bài thơ viết về cùng một đề tài. Bài thơ đã phần nào thể hiện được cái chất lãng mạn ngang tàng của những người lính vốn là những thanh niên trí thức vừa "xếp bút nghiên" đi kháng chiến:
 
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo

 . Màu tím hoa sim của Hữu Loan không hề đề cập đến chuyện vợ mình mất trong hoàn cảnh nào (theo nhà thơ cho biết thì vợ ông bị chết đuối) nhưng cả bài thơ khiến cho người đọc người nghe cứ rưng rưng nước mắt. Tôi còn nhớ hồi miền Nam mới được giải phóng ở các bến tàu bến xe mỗi lần nghe những người hát rong nức nở "nhưng không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương..." là lòng tôi cứ quặn thắt. Bao nhiêu nghịch lý chồng chất tầng tầng lớp lớp : "Người trai khói lửa" không chết mà "người gái nhỏ hậu phương" lại chết là một nghịch lý; mẹ ngồi bên mộ con là một nghịch lý (lá vàng còn ở trên cây nhưng lá xanh lại rụng); "chiếc bình hoa ngày cưới" - tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi trong phút chốc đã biến thành "bình hương tàn lạnh vây quanh" cũng là một nghịch lý; ba người anh ở chiến trường "biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng" lại thêm một nghịch lý nữa... Tất cả cứ xoáy vào tâm can tác giả xoáy vào tâm can người đọc người nghe. Từ nỗi đau riêng nhà thơ đã chạm đến nỗi đau chung của  người cùng cảnh ngộ đặc biết là nỗi đau của một dân tộc phải chịu đựng bao nhiêu mất mát đau thương qua bao cuộc chiến tranh tàn khốc như dân tộc Việt Nam.
 Bình tĩnh đọc lại Màu tím hoa sim tôi còn thấy bài thơ thấm đẫm chất nhân văn. Chẳng hạn đoạn tác giả viết về suy nghĩ của người lính:

                    Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương
Người vợ chờ
bé bỏng
chiều quê.....
 
    Người lính ra trận không sợ mình hy sinh chỉ lo cho vợ ở nhà. Hình ảnh người vợ : chờ - bé bỏng - chiều quê" là hình ảnh điển hình của những cặp vợ chồng sống trên những đất nước trải qua  nhiều cuộc chiến tranh.

   Màu tím hoa sim cho ta tin rằng những bài thơ hay có cuộc sống riêng của nó không phải cứ phê phán hay buộc tội là có thể giết chết được nó. Hãy tin vào thời gian. Thời gian bao giờ cũng sáng suốt.

                                                                        
                                                                 Mai Văn Hoan

More...

NGÀY THƠ VIỆT NAM Ơ QUÊ TÔI

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

           NGÀY THƠ VIỆT NAM Ơ QUÊ TÔI

    
    Quê tôi ở cuối dòng sông Gianh. Chỉ một vùng đất hẹp thuộc xã Thanh Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình mà thời chống Mỹ đã xuất hiện ba anh hùng. Không chỉ anh hùng trong chiến đấu quê tôi còn có truyền thống văn hóa thể thao. Đội bóng chân giày Sông Gianh của quê tôi đã từng "vang bóng một thời". Đội Văn nghệ xã tôi cũng đã giành nhiều giải thưởng trong các hội thi cấp huyện cấp tỉnh. Cậu bé làm thơ nổi tiếng cùng thời với thần đồng Trần Đăng Khoa là Hoàng Hiếu Nhân cũng gốc gác quê tôi. Trong xã tôi có ba hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác giả Cảnh Giang (hội viên Hội VHNT Quảng Bình) Đức Sơn (hội viên Hội NHNT Thừa Thiên Huế) cũng đã có một số tập thơ "trình làng"... Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch là con rể quê tôi.  Năm nay lần đầu tiên Hội Nhà giáo hưu trí CLB Văn nghệ và trường thcs Thanh Trạch phối hợp tổ chức Ngày thơ Việt Nam.  Trong phạm vi cấp xã mà tổ chức được Ngày thơ Việt Nam tương đối "hoành tráng" có lẽ là điều "xưa nay hiếm" nếu không có tiềm năng nội lực và lòng yêu mến thơ ca.

More...

VIẾNG MỘ THI NHÂN

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN

Ngô Minh

Nhà thơ Mai Văn Hoan đọc thơ Phương Xích Lô trước mộ thi sĩ


Viếng mộ thi nhân tại Huế là chương trình khởi đầu trong hoạt động chào mừng Ngày thơ Việt Nam lần thứ VII Nguyên Tiêu Canh Dần tại Huế với nội dung " Thơ Cố Đô Huế hướng về Thăng Long Hà Nội ngàn năm". Sáng ngày 25/2/2010 ( tức ngày 12 Tháng Giêng Canh Dần) rất nhiều nhà văn nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế do hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế dẫn đầu đã lên vùng đồi miền Tây Huế viếng mộ các nhà thơ . Đã thành lệ đây là lần thứ ba các nhà văn Huế đi viếng mộ thi nhân trong Ngày thơ Việt Nam. Chúng tôi cho rằng Ngày thơ Việt Nam là ngày Chào Lá cờ Thơ ngày "Giỗ Thơ" nên đi viếng mộ thi nhân là việc đầu tiên phải làm. Và ở Huế viếng mộ thi nhân trong ngày thơ Việt Nam đã thành một mỹ tục. Đoàn gồm có nhà thơ Hồng Nhu Mai Văn Hoan Trần Hoàng Phố Trần Thuỳ Mai Ngô Minh Hạ Nguyên Nguyễn Thiền Nghi Lê Vĩnh Thái Nguyên Quân Lê Tấn Quỳnh.v.v.. cùng gần 20 em học sinh lớp chuyên văn trường đại học Khoa Học do cô giáo hoạ sĩ Võ Thị Quỳnh chủ nhiệm cùng đi . Chương trình do Tạp chí Sông Hương tài trợ. Tạp chí đã thuê xe mua nhang rượu ngon cho các nhà văn đi viếng mộ.

Mộ các nhà thơ nhà văn ở Huế tập trung ở 3 khu vực gồm Nhà thờ Phan Bội Châu- Nghĩa Trang Phan Bội Châu Đồi Từ Hiếu và Nghĩa trang nhân dân thành phố Huế. Đoàn đã lên Nhà thờ Phan Bội Châu ở đường Phan Bội Châu thắp nhang viếng mộ cụ Phan một nhà thơ nhà cách mạng nổi tiếng của nước ta đầu thế kỷ XX. Nhà thờ Phan Bội Châu vừa qua đã được sửa sang lại đẹp hơn. Các em học sinh chuyên văn Đại học Khoa Học Huế ríu rít thắp nhang bên tượng cụ Phan. Bức tượng bán thân Phan Bội Châu do họa sĩ nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn ( định cư ở Úc đã mất) thực hiện năm 1973 cao 4 5m rộng 3 5m dày 2 5m gồm 12 mảnh ghép thể hiện chân dung cụ Phan với hai mảng phù điêu phản ánh hiện thực và ước mơ. Mảng bên trái là bóng tối thể hiện xiềng xích nô lệ áp bức và tù đày của chế độ thực dân xâm lược. Mảng bên phải biểu đạt ước vọng hòa bình và độc lập ấm no và hạnh phúc. Tượng được đặt trên một bệ hình khối chữ nhật cao 2m bằng đá hộc. Từ 30 năm nay tượng được đặt tạm trong khuôn viên nhà thờ cụ Phan . Theo các nhà chuyên môn bức tượng được đánh giá là lớn và đẹp nhất nước hiện nay. Nhưng vì nhiều lý do mà hơn 30 năm qua vẫn chưa tìm được vị trí tương xứng để đặt. Vừa qua giới chức văn hoá tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã có cuộc họp bàn việc năm 2010 này sẽ đặt bức tượng Phan Bội Châu ở một vị trí bên bờ sông Hương để Huế có thêm một điểm du lịch đẹp ý nghĩa.

Nghĩa trang Phan Bội Châu ở 5-đường Thanh Hải Huế là khuôn viên mà sinh thời cụ Phan Bội Châu dùng tiền riêng của mình mua để làm nơi chôn cất những người yêu nước. Các nhà văn Huế và các em học sinh đã kinh cẩn thắp nhang cho các nhà thơ nhà văn lớn có mộ ở đây như Nữ sử Đạm Phương nhà văn Hải Triều ( là bà nội và bố của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm) nhà thơ Thanh Hải và các nhà cách mạng khác như Nguyễn Chí Diễu.v.v..

Đồi Từ Hiếu ( nơi có chùa Từ Hiếu) là nơi có nhiều mộ các thi sĩ Hoàng tộc và các nhà cách mạng. Len lỏi vượt qua cây xấư hổ dày đặc và những bức tường xây cao thấp lắt léo của một nghĩa trang dày đắc mộ chí các nhà văn và các em học sinh đã tìm đến thắp nhang cho Nhà thơ Tùng Thiên vương Miên Thẫm ( con vua Minh Mạng) một nhà thơ nổi tiếng Huế thế kỷ XIX. Sau đó đến viếng ngôi mộ chung của nhà thơ Vĩnh Mai và vợ là bà Phương Chi. Nhà thơ Vĩnh Mai là Bí thư đầu tiên cuả Thành uỷ Huế. Ngôi mộ hai vợ chồng đã được nhà thơ Nhât Lâm cải táng chung giữa năm 2009 theo di chúc của nữ sĩ Phương Chi sau khi bà mất. Ở đồi Từ Hiếu đoàn còn thắp nhang vái lạy các nhà cách mạng chống Pháp kiên cường như Trần Thúc Nhẫn Trần Cao Vân Thái Phiên. Trần Cao Vân và Thái Phiên dân xứ Quảng bị Pháp bắt vì chống Pháp bị xử chém được nhân dân chôn chung mộ. Ngôi mộ chung có 2 tấm bia được bà con xây cất đàng hoàng.

Dọc đường Tam Thai lên Nghĩa trang nhân dân Huế có mộ của hoạ sĩ tài ba Bửu Chỉ các nhà thơ Hải Bằng Nguyễn Văn Phương ( Phương Xích lô) Nguyễn Xuân Hoàng và Thái Ngọc San. Trưa nắng nóng nhưng các nhà văn các em học sinh mồ hôi mồ kế đã hăng hái tìm đến các ngôi mộ thi sĩ. Mộ hoạ sĩ Bửu Chỉ ở cạnh Chùa Ba Đồn được gia đình xây cất rất đàng hoàng. Mới đó mà hoạ sĩ ra đi đã 5 năm rồi. Nhà thơ Trần Hoàng Phố hoạ sĩ Đặng Mậu Tựu đã châm điếu thuốc Ngựa cắm lên bát nhang rồi rót rượu cúng hoạ sĩ. Ở mộ nhà thơ Phương Xích lô nhà thơ Mai Văn Hoan đã xúc động đọc cho các em học sinh nghe bài thơ Trôi mà thi sĩ Nguyễn Văn Phương chép tặng trong sổ tay Mai Văn Hoan rồi Phương quên chưa công bố trong các tập thơ của anh. Bài thơ như tiếng thốt lên của định mệnh : Mai ta chết / mồ kia xanh ngọn cỏ / Những mùa thu vẫn lặng lẽ đi qua / Có chiếc lá nào / rơi / trên bia mộ / Ai chôn dùm xác lá / cạnh gần ta ! / Mai ta chết / có ai cười ai khóc / Trong tận cùng sâu thẳm / ta nằm nghe / Có ai đến bên ta ngồi đọc / lời thơ tưởng niệm gọi ta về... / Mai ta chết / có ai lên đó hỡi / Trên mồ ta / những / quạ rú thông reo / Đè lên ta/ bằng tháng ngày / ớn lạnh / Giữa bốn bề / nghĩa địa / đìu hiu... Các nhà văn rót rượu tưới lên mộ Phương. Các em học sinh xúc động đứng quanh mộ chụp ảnh kỷ niệm. Thấy trên mộ Phương cát bị xói nhà thơ Nguyên Quân đã đến nhà bà cạnh đó gửi tiền nhờ bà mua một xe ba gác sỏi rải lên mộ nhà thơ. Thật tình nghĩa.
Mộ nhà thơ Thái Ngọc San nằm dưới đồi thông đẹp. Gia đình bạn bè đã xây cất khuôn viên mộ rất đẹp và sang trọng. Có cả bàn đá cho bạn bè đến viếng ngồi uống rượu. Nhà thơ Nguyên Quân đã lấy rượu trắng tưới lên bia mộ Thái Ngọc San để lau cho sạch cho mọi người chụp ảnh. Sau đó nhà văn Hồng Nhu ( đã 77 tuổi vẫn theo anh em đi viếng mộ thi nhân suốt buổi sáng) Trần Thuỳ Mai Ngô Minh Mai Văn Hoan ...đã lần lượt thắp nhang vái lạy chúc nhà thơ yên nghỉ ngàn Xuân.
Mộ nhà thơ Nguyễn Xuân Hoàng ( thư ký toà soan Tạp chí Sông Hương mất khi 41 tuổi) nằm trong khuôn viên mộ gia đình bên vợ. Xuân Hoàng là thi sĩ rất ngất ngưỡng nên ở mộ anh người bạn thân là nhà thơ Hạ Nguyên ( tức Hồ Đăng Thanh Ngọc phụ trách Tạp chí Sông Hương) đã khuy chai rượu quý để mọi người cụng ly với hương hồn thi nhân. Ai cũng tưới lên mộ Xuân Hoàng một chén rồi cụng ly uống một chén . Rồi anh em đọc những bài thơ cuối đời của Nguyễn Xuân Hoàng. Bài thơ Lệ nến như một dự báo số phận thật xúc động. Cháy nữa thôi nến ơi / Hanh khô từng giọt máu / Nhen tình em nhân hậu / Độ lượng ấm vòng tay / Cháy nữa thôi nến ơi /Ta đợi em / Nến tàn / Héo khô dòng nước mắt / Gót chân khuya / Em về / Bình minh lên / tím buốt / Cháy nữa thôi nến ơi / Một kiếp người ngắn ngủi..
Sáng Ngày 12 Tết Canh Dần đoàn nhà văn Thừa Thiên Huế cùng các em học sinh chuyên văn Quốc Học đã khởi động Chương trình hoạt động ngày Thơ Việt nam tại Huế bằng cuộc tìm viếng mộ thi nhân rất cảm động và tình nghĩa. Tôi nghĩ có lẽ đây là việc đáng làm nhất trong Ngày thơ Việt Nam mà Hội Nhà văn Việt Nam nên dành một hai ngày trước Ngày thơ Việt Nam hàng năm để viếng mộ các thi nhân nổi tiếng hàng đầu của nước ta như Nguyên Du Nguyễn Công Trứ Văn Cao Cù Huy Cận Phùng Quán Trần Dần Tố Hữu.v.v..Và phải duy trì Ngày viếng mộ thi nhân thành một tập tục văn hoá Việt .

Sau đây là một số hình ảnh  đi Viếng mộ thi nhân ở Huế sáng 12 tháng Giêng Canh Dần :



Ngô Minh viếng mộ nhà văn Hải Triều

Đoàn viếng mộ thi nhân lên đồi Từ Hiếu

Nhà văn Hồng Nhu thắp nhang mộ Vĩnh Mai-Phương Chi


Viếng mộ Trần CAo Vân- Thái Phiên

Nhà văn Trần Thuỳ Mai trước mộ nhà thơ Thái Ngọc San

 


Anh em ngồi nghỉ bên mộ nhà thơ Thái Ngọc San


Ngô Minh thắp nhang cho nhà thơ nguyễn Xuân Hoàng

Nguồn : Blog Ngô Minh

More...

THƠ VỀ MẸ

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Trang chủLiên hệThứ bảy 13/ 02/2010 12:53:57 PM
Tất cả  Thi viện
 
 
"Mẹ là đất nước tháng ngày của con" (20/10/2008)
 

"Mẹ là đất nước tháng ngày của con"

(Trần Đăng Khoa)

     MẸ - chủ đề lớn không thể thiếu của thi ca muôn đời. Hình ảnh MẸ hiền hoà bao dung và luôn gắn liền với đồng quê một sương hai nắng tần tảo thân cò nuôi con lớn khôn. Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 lucbat.com xin giới thiệu cùng bạn đọc những vần thơ chan chứa tình yêu thương và lòng biết ơn vô bờ của các thi nhân khi viết về MẸ kính yêu.

 

 

Bờ sông nhớ mẹ

Bâng khuâng cầm lại mái chèo
Đưa dòng kỷ niệm ngược theo tháng ngày

Cũng trời cũng nước cũng mây
Cũng con sông cũng bóng cây đôi bờ


Cũng chiếc đò của tuổi thơ
Cũng dòng nước chảy lửng lờ mẹ ơi !

Mẹ đi mấy chục năm rồi
Bờ sông nhớ mẹ bồi hồi sóng xao


Bến xưa đò mẹ cắm sào
Cành sung nghiêng bóng...ngày nào cũng mong

Và con đò vẫn chờ trông
Mái chèo nhắc mẹ trên dòng thời gian ...


             Mai Văn Hoan
      (Trường Quốc Học - Huế )

Mẹ ơi!!!


Nghe tin ngoài Bắc rét về
Trong Nam con cũng đã tê tê lòng
Thương cho cây lúa mới trồng
Thương đôi vai mỏng mẹ gồng trời đông

Thuở còn con gái má hồng
Rét Nàng Bân vẫn không là gì
Bây giờ sức khoẻ trôi đi
Mong manh cơn gió mẹ thì đã run

Bàn chân lội ruộng dẫm bùn
Nứt ngang nẻ dọc móng cùn da khô
Bây giờ cái rét thập thò
Mẹ ơi!Đi đứng dặm dò sao đây?

Thương mẹ thương nhất bàn tay
Vừa ẵm con vừa cấy cày... bao năm
Bây giờ giá rét căm căm
Bát cơm đôi đũa mẹ cầm chắc không?

Mùa đông ơi!hỡi mùa đông!
Tôi xin nhận cả vào lòng của tôi
Để cho mẹ ấm trọn đời
Để cho mẹ mãi nụ cười mùa xuân

Thầy giáo Nguyễn Duật Tu

Mẹ của anh

Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đó thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Nhưng em ơn mẹ suốt đời chưa xong.
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao
Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh.
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa
Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau nỗi âu lo nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng
Giữa ngàn hoa có núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắt chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em...

Xuân Quỳnh

Mẹ ốm

Mọi hôm mẹ thích vui chơi
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan
Khắp người đau buốt nóng ran
Mẹ ơi ! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào
Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi
Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo
Vì con mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khỏe dần dần
Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say
Rồi ra đọc sách cấy cày
Mẹ là đất nước tháng ngày của con.

Trần Đăng Khoa

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò... sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ không

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...

Nguyễn Duy

 (Lucbat.com)

More...