Chín tới để tỏa hương

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Lục bát Mai Văn Hoan - Chín tới để tỏa hương (13/08/2008)
 

Mai Văn Hoan lặn lội với nghề dạy học đã 27 năm nhập vào thơ anh dễ thương như chàng trai mới lớn. Tôi và anh quen biết nhau gần hai mươi năm ; từng ngồi chong đêm với cút rượu làng Chuồn trong quán cóc đường Ngô Quyền nghe phượng hoa vàng thấm ướt đường khuya. Nhờ sự gần gũi ấy khi tôi đọc tập Lục bát thơ tôi không ngạc nhiên khi dòng sáu tám của anh trữ tình đa mang và sâu lắng.

     Anh sinh ra và lớn lên ở cửa sông mở mắt đã chạm vào bao la của trời và nước chạm vào cuộc rong chơi lãng mạn của gió và nỗi chờ đợi trầm kha về một cánh buồm:

 ...Cha ra đánh cá ngoài khơi

 Những chiều ta đứng trông vời chân mây

 Thuyền về tôm cá chất đầy

 Tóc cha sém nắng bàn tay chai sần...

                       (Buồn trông cửa bể)

     Khi chạm vào tình yêu anh ngập ngừng thốt lên:

Hiện em đang có một người

Yêu em say đắm chưa lời nói ra

Em đang làm khổ người ta

 Bởi vì mái tóc mượt mà nhung đen

 Bởi vì gương mặt hồng sen

 Bời vì những ngón tay mềm này đây!

...Bày trò cốt để đùa chơi

 Ngờ đâu anh ngõ được lời cùng em

                            (Xem tay)

      Nói về nữ sinh anh có bài Nữ sinh Đồng Khánh nhiều thế hệ học trò dưới mái trường Hai Bà Trưng giữ mãi trong sổ lưu bút ngày xanh:

Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa

Xui hoàng hồn tím trang thơ học trò

Nữ sinh Đồng Khánh qua đò

Xui dòng Hương cất giọng hò xa xôi

Nữ sinh Đồng Khánh dạo chơi

Phấn thông vàng rải ngát trời Thiên An

Trống trường Đồng Khánh vừa tan

Trên đường phơi phới từng đàn bướm bay

     ... Lục bát thơ của anh miết mải một dòng chảy mềm mại ngay lúc thương đau nói điều gan ruột anh vẫn một giọng tha thiết:

Thuỳ ơi bạn ở nơi đâu ?

Mình nhìn chỉ thấy một màu cỏ xanh

Mé đồi thấp thoáng mái tranh

Hắt hiu khói nhạt Kỳ Anh vương buồn

Mình qua quê bạn hoàng hôn

Bóng hình bạn cứ như còn đâu đây...

                      (Tìm mộ bạn)

Nữ sinh Đồng Khánh xưa

     Bốn mươi bảy bài lục bát trong tập là những lời tự sự về cha mẹ cuộc đời bè bạn tình yêu và nhất là lứa tuổi học trò trong sáng mộng mơ của xứ Huế mà anh đã và đang được làm thầy. Hãy đọc lời tựa của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo về tập thơ Ảo Ảnh của anh xuất bản năm 1988 : Thơ Mai Văn Hoan chỉ xuất hiện thấp thoáng trên sách báo hơn mười năm trở lại đây nhưng lại xuất hiện khá nhiều trong trong sổ tay của nhiều lứa sinh viên học sinh ở Huế. Phải chăng thơ anh đồng cảm với tâm lý trong sáng tế nhị của những người mới bước vào ngưỡng cửa tình yêu ? Hiệu quả thơ Mai Văn Hoan chính là hiệu quả tâm lý ấy. Không ồn áo không trang điểm thơ anh có lực đẩy của ngọn gió tàng hình mở ra cánh cửa giấu kín bao bí mật của tình cảm. Ở đây lồng lộng những khoảng trời mây cao; âm thầm một hình hoa độc sắc và cũng có khi chỉ là một ảo ảnh không thể thiếu vắng trong đời...

     Bao năm đứng trên bục giảng và lặng lẽ làm con tằm nhả thơ thạc sĩ văn chương Mai Văn Hoan đã viết như một tuyên ngôn về thơ anh:

Cứ nói điều gan ruột

Hay dở có thời gian

Mong sao đừng bỏ cuộc

Dù còn chút hơi tàn...

     47 bài thơ trong Lục bát thơ là những lời tự sự tỏ tình có cánh là 47 bông hoa khi đằm thắm thiết tha khi thâm trầm triết lý mà nhà thơ Mai Văn Hoan dâng tặng cho đời tặng cha mẹ. bè bạn và các thế hệ học sinh thân yêu của mình... Tính đến nay anh đã in 8 tập thơ và nhiều tập tiểu luận chứng tỏ sức viết của anh đang độ Chín Tới Để Toả Hương...

Huế ngày 16 tháng 6 năm 2006

        Nguyễn Nguyên  An

Xem tay

Anh nào có biết xem tay

Cái trò bói toán anh bày trêu chơi

Làm như thông thạo lắm rồi

Anh ngồi anh phán đường đời của em

Nói riêng về số nhân duyên

Em hơi rắc rối hơi phiền chút thôi

Hiện em đang có một người

Yêu em say đắm chưa lời nói ra

Em đang làm khổ người ta

Bởi vì mái tóc mượt mà nhung đen

Bởi vì gương mặt hồng sen

Bởi vì những ngón tay mềm này đây !

Em cười... đôi má... đỏ hây

Còn anh cảm thấy ngất ngây trong lòng

Cái điều anh vẫn ước mong

Ngại ngần anh cứ nói vòng nói quanh

Kẻ yêu em - chính là anh !

Bởi chưng líu lưỡi mới thành người ta

Và em cũng chợt hiểu ra

Ngón tay em khép như là hổ người

Bày trò cốt để đùa chơi

Ngờ đâu anh ngỏ được lời cùng em !
         

                                                                         Mai Văn Hoan
Nguồn : Thơ lục bát

More...

HOA KHÔNG NỞ CHO TÔI

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

HOA  KHÔNG  NỞ  CHO  TÔI

                              
                 " Chỉ e hoa nói nên lời
              Em không phải nở cho người già nua "
                                        Lưu Vũ Tích


Có lẽ người xưa nói đúng
Hoa đâu còn nở cho tôi
Tháng năm tuổi xuân rơi rụng
Đời tôi bóng đã xế rồi


Tóc đã chen đôi sợi bạc
Trán đã hằn vài nếp nhăn
Còn hoa thì thơm ngào ngạt
Cánh hoa rực rỡ sắc xuân


Tôi biết sớm chiều ong bướm
Dập dìu quấn quít bên hoa
Còn tôi là người ngoài cuộc
Giả vờ vô tình đi qua

Làm như không hề để ý
Vì hoa đâu nở cho tôi
Dừng chân chỉ dừng một tí
Ngắm hoa chỉ ngắm trộm thôi


Cũng may mà hoa không nói
Tôi như còn thấy hoa cười
Và tôi tự mình an ủi
Đa tình đâu chỉ riêng ai !


Ức Trai ngày xưa cũng thế
Tóc ba phần bạc thương dân
Gặp gái Tây Hồ bán chiếu
Trái tim vẫn động tình xuân


Tôi sợ một hôm nào đó
Thấy hoa rã cánh trong vườn
Thương một đời hoa ngắn ngủi
Nắng mưa tàn tạ sắc hương


Hoa rơi âm thầm lặng lẽ
Còn ai tưởng nhớ đến hoa
Còn đâu cái thời rực rỡ
Dập dìu ong bướm lại qua


Và tôi như người hành khất
Lần tìm nhặt cánh hoa rơi
Một mình âm thầm nuối tiếc
Dẫu hoa không nở cho cho tôi !

              
            Mai Văn Hoan



More...

GIẾNG LÀNG

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

Giếng làng (10/10/2008)
 

     Nông thôn Việt Nam xưa phần nhiều là nhà gianh do đó rất ít nhà có bể nước mưa người làng chủ yếu dùng nước giếng công cộng để nấu ăn. Vì thế "Cây đa - Giếng nước - Mái chùa" đã trở thành những hình ảnh của quê hương nhất là đối với người xa xứ.

Cây đa cùng với Giếng làng
Quê hương nguồn cội - hành trang cuộc đời
Giếng làng ơi ! Giếng làng ơi !
Trong tôi lắng tiếng gàu rơi ... Giếng làng.

                               (Nguyễn Xuân Tư)

     Nước mưa là tinh khí của trời cha và được đất mẹ giữ lấy để từ đây mọi sinh linh sinh sôi và phát triển. Giếng nước là nơi tụ hội nguồn sống là nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra và do đó nó là nơi của niềm hoan lạc kỳ thú. Trong sinh hoạt đời thường người ta lấy nước giếng về dùng trong sinh hoạt như nước mưa nó ngọt lịm khoan khoái như móc lành làm dịu cơn khát và góp phần tạo nên những bữa ăn hàng ngày. Giếng nước còn là chiếc gương lớn để các cô gái ra gánh nước thì tranh thủ soi mình làm duyên. Và vì thế bên giếng làng thường diễn ra những cuộc hò hẹn ân tình lứa đôi:

Hỡi người duyên số dở dang

Nhớ chăng đêm ấy... trăng vàng chung soi

Lỡ tay thương chiếc gàu rơi

Làm xao lòng giếng... một thời vụng yêu

                           (Giếng làng - Mai Văn Hoan)

     Trong cái tổng thể văn hoá làng quê bình dị mà lung linh huyền ảo cây đa có thần mái chùa có phật thì giếng nước là sự tượng trưng cho sự dồi dào sung mãn và cho nguồn gốc của sự sống. Bàn thờ gia tiên ở nhà dân hay bàn thờ thần thánh ở đền đình đều không thể thiếu được bát nước mưa hay nước giếng. Trước ngày hội làng bài vị và ngai thờ Thành hoàng đều được mục dục (lau chùi) bằng nước giếng hay nước sông. Và nếu hội có thi nấu cơm hay thi làm cỗ thì đều lấy nước từ giếng làng.

Vài mươi năm nay nông thôn từ ngày ngói hoá thì nhiều nhà đồng thời cũng có bể nước mưa và khi triển khai phong trào nước sạch nông thôn thì nhà nhà có giếng đào và giếng khoan do đó nhiều nơi chiếc giếng làng bị lãng quên và rồi san lấp để lấy mặt bằng xây dựng! Tuy nhiên không ít nơi chiếc giếng vẫn đang tham gia vào cuộc sống thường nhật của dân làng thậm chí gắn bó với đời sống tâm linh của cả cộng đồng. Làng Giang Xá (Hà Tây) ngay trước cửa đền Lý Nam Đế là một khẩu giếng đất to mặt thoáng thường xuyên thả bèo ong giữ cho nước giếng luôn trong mát. Làng Hiệp Thuận (Hà Tây) đào trong cù lao nhỏ giữa hồ có đường thông ra đang là nguồn nước sạch của nhiều nhà. Nhiều nơi trước cửa đình vẫn còn khẩu giếng bán nguyệt xây gạch Bát Tràng gợi lại khúc sông cong làm nơi tụ thuỷ - tụ phúc.

Giếng làng Hà Đông

Cũng có một số giếng ngày nay không còn giá trị sử dụng nhưng vẫn được địa phương giữ gìn sạch sẽ chẳng hạn khẩu giếng ở đầu đình Đại Phùng (Hà Tây) bên dưới xây bằng những thỏi đá ong còn thành giếng là cả một khối đá ong khoét rỗng lòng trông thật mộc mạc mà đanh chắc hay khẩu giếng ở trước nhà Tổ chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) có thành giếng là một khối đá xanh khoét rỗng lòng phía ngoài toả chân ra nền sân giếng tạo thành một đoá sen nở rộ với những cánh hoa chạm khá cầu kỳ. Bảo tàng Mỹ thuật đã phục chế khẩu giếng này trưng bày trong vườn cảnh như một di sản văn hoá quý. Sân chim Dâu (Bắc Ninh) còn khẩu giếng không có thành cao hình thức đơn giản như truyền thuyết cho biết là lỗ cắm cây gậy của nàng Man Nương được sư Khâu Đà La cho để chống hạn nước rất trong và không bao giờ cạn nhà chùa vẫn dùng cho sinh hoạt. Trong thượng điện quán Linh Tiên (Hà Tây) có một khẩu giếng mà dân địa phương bảo là huyệt đan sa rất thiêng nước trong ngọt và không bao giờ cạn vẫn lấy nước cúng trong Thần điện.

     Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được dựng từ thời Lý hiện còn dấu tích những 3 khẩu giếng cổ: khẩu giếng trên sườn núi phía sau chùa được kè đá với bậc xuống từ phía sau đáy ao từ một tảng đá tự nhiên được chạm thành đôi rồng nay tuy không còn nguyên vẫn nhận ra rõ ràng thư tịch xưa gọi là Long Trì. Trên sân bãi trước cửa chùa có khẩu giếng dưới đáy có tượng đầu rồng thời Lý rất điển hình từ đây nước dù tát cạn lại phun ra rất nhanh. Dưới ao chùa cạnh đó gần đây cũng phát hiện một khẩu giếng nữa dưới đáy có một số đồ đất nung vốn xưa được trang trí cho kiến trúc. Chùa Giam (Bắc Ninh) trên nền chùa phía sau cột đá chạm rồng cao hơn 5m vẫn còn dấu tích một khẩu giếng dù ở phía bắc cột nhưng dân địa phương kể trong năm có ngày bóng cột sẽ ngả vào giếng biểu hiện sự trường tồn cho dân cho nước. Chùa Phổ Minh (Nam Định) ngoài cặp giếng đất cân đối ở sân trước chùa được truyền là cặp mắt rồng phía sau chùa đã phát hiện khẩu giếng cổ mà thân giếng được xếp bằng những chiếc vại đựng vôi đảm bảo cho nước luôn trong và sạch. Còn chùa Keo (Thái Bình) có khẩu giếng bên cạnh điện thánh thân giếng được xếp bởi những chiếc cối đá  thủng truyền là đã dùng để giã gạo trong khi dựng chùa.

     Ở đình Ngô Nội (Bắc Ninh) có bức chạm từ cuối thế kỷ 17 trong bức cốn gỗ ở trên cao nghệ sĩ xưa chạm cảnh cô gái làng ra giếng gánh nước đôi quang thùng nước và chiếc đòn gánh còn gác lên thành giếng cô gái gặp người tình và hai người đang ân ái thì bị người khác thổi ống xì đồng làm chết. Họ chết vào giờ thiêng được dân làng ghi hình và thờ phụng.

     Thiêng hơn cả là những chiếc giếng từ buổi đầu dựng nước. Trên núi Trân Sơn (Bắc Ninh) có vạt núi đá được gọi là "Giếng Việt" các khe đá nứt từ đó toả ra xung quanh trên cao nhìn xuống như hình cửa mình bà mẹ xứ sở khổng lồ. Và có lẽ vì thế giếng luôn là biểu trưng của âm tính với nước thiêng nguồn sống vĩnh hằng. Còn trong khu đền Hùng (Phú Thọ) ở dưới chân núi phía đông nam có đền Giếng là nơi thờ tự công chúa Ngọc Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và công chúa Tiên Dung (sau lấy Chử Đồng Tử) hiện vẫn còn khẩu giếng tương truyền là gương soi của hai nàng công chúa con Vua Hùng thứ 18. Trong khu thành Cổ Loa (Hà Nội) trước đền Thượng vẫn còn khẩu giếng ở giữa hồ tương truyền nơi hồn Mị Châu đã hiện hình để dụ cho Trọng Thuỷ nhẩy xuống dân địa phương bảo để trả mối thù bị lừa lấy mất lẫy nỏ thần song văn học dân gian lại ghi nhận mối tình đôi lứa thuỷ chung.

     Giếng làng nay còn ít và cũng ít giá trị thực dụng nhưng những giá trị văn hoá của nó lại càng đậm trong tâm thức mọi người và vì thế nó cứ lung linh toả sáng.

(Theo PGS.Chu Quang Trứ)

Giếng làng

Về quê tìm lại giếng làng

Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân

Bao phen trời đất xoay vần

Làng xưa xóm cũ mấy lần đổi thay.

Nép sau vườn dưới vòm cây

Lòng băn khoăn : có phải đây giếng làng ?

Hỡi người duyên số dở dang

Nhớ chăng đêm ấy... trăng vàng chung soi

Lõ tay thương chiếc gàu rơi

Làm xao lòng giếng... một thời vụng yêu

Giếng làng thuở ấy trong veo

Chia khắp thiên hạ: giàu nghèo hèn sang...

Gái làng tắm nước giếng làng

Tóc càng óng mượt da càng mịn thơm!

Bây giờ nước có đầy hơn

Chạnh buồng tên giếng không còn từ lâu

Bâng khuâng cầm lại dây gàu

Buông tay nhè nhẹ... sợ đau giếng làng.

Mai Văn Hoan

 

 

Nguồn Thơ lục bát

More...

DƯ ÂM SEA GAMES 25

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

                             DƯ ÂM SEA GAMES 25

        
    Tôi đang tràn trề cảm hứng thì trận thảm bại của U23 Việt Nam làm tiêu tan tất cả. Về đến Huế vẫn chưa hết buồn. Mưa và lạnh. Lần giở những trang nhật ký ghi vội ở Viên Chăn cứ thấy tiêng tiếc. Sea games 25 trôi qua đã hơn nửa tháng rồi nhưng dư âm những ngày sôi nổi hào hứng ấy khiến tôi không thể nào dứt ra được. Thế là tôi quyết định viết những dòng muộn màng này.
     

More...

PHƯƠNG ẤY NHIỀU HOA

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

PHƯƠNG ẤY NHIỀU HOA


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Tôi cứ tìm vơ vẩn đâu đâu
Tôi cứ đi mặc mưa dầm giá rét
Bùn sục dưới chân gió táp trên đầu


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Năm tháng qua tôi lên thác xuống đèo
Hoa chẳng thấy chỉ voi gầm cọp thét
Khỉ đu mình trên vách đá cheo leo


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Tôi cứ đi mặc bao tiếng chê cười
Chân dẫm phải chông gai rắn rết...
Đi tìm hoa lại gặp quỷ mặt người


Phương ấy nhiều hoa sao tôi không biết
Sao đến giờ tôi mới được gặp em
Khi cánh cửa cuộc đời tôi đã khép
Em như vầng trăng mười sáu vừa lên...


              
                Mai Văn Hoan

More...

VÀI MẨU CHUYỆN NHỎ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

   VÀI MẨU CHUYỆN NHỎ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY
 
    
     
        Thời học lớp 8 (tương đương với lớp 10 bây giờ) cấp 3 Quảng Trạch Quảng Bình (niên khóa 1964 - 1965) tôi nhớ mãi tiết dạy hoá của thầy Bùi Ngọc Lâu.  Thầy hơi thấp nước da trắng hồng như da con gái . Thầy ăn mặc bình dị mà thanh thoát nho nhã.  Vào lớp lúc nào thầy cũng gập lưng khoát tay chào rất kiểu cách. Thầy giảng ngắn gọn dễ hiểu. Thầy có những nhận xét rất hóm hỉnh và thâm thúy.

More...

MAI VĂN HOAN

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

                               

        Mai Văn Hoan sinh 20-1-1949 quê Thanh Trạch Bố Trạch Quảng Bình. Anh tốt nghiệp khoa Văn đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường : Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973) Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979) Hai Bà Trưng (1979-1985) Quốc Học (1985-2009). Anh cũng từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989) tỉnh Thừa Thiên Huế (1989- 2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư tiến sĩ cán bộ quản lý nhà văn nhà báo... nhưng vẫn "mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan" như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet. 
      Cho đến nay Mai Văn Hoan đã xuất bản bảy tập thơ : Ảo ảnh (1988); Giai điệu thời gian (1989); Hồi âm (1991); Trăng mùa đông (1997); Giếng Tiên (2003); Lục bát thơ (2006); Điếu thuốc và que diêm (2009). Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Mai Văn Hoan "có lực đẩy của ngọn gió tàng hình mở ra cánh cửa giấu kín bao bí mật của tình cảm. Ở đây lồng lộng một khoảng trời mây cao; âm thầm một bình hoa độc sắc; và cũng có khi chỉ là một ảo ảnh không thể thiếu vắng trong đời...". Còn nhà thơ Hoàng Vũ Thuật thì nhận xét : "Mai Văn Hoan viết về tình yêu với mong muốn thức dậy sức sống trong con người hướng con người đi đến cái cốt cách cao thượng xoá dần những thói ích kỉ tầm thường..."
       Anh là thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học. Những bài phê bình tiểu luận của anh đã được đăng tải trên các báo tạp chí trong cả nước. Anh đã xuất bản : Cảm nhận thi ca (tập 1 1991); Cảm nhận thơ Hàn Mặc Tử (1999); Cảm nhận thi ca (tập 2 2008). Đôi nét chân dung các nhà văn Việt Nam ở Huế (2009)
         Châm ngôn của anh : Sống chân thật giản dị. Viết giản dị chân thật.
         Mai Văn Hoan tâm niệm : 

                                      Cứ nói điều gan ruột
                                      Hay dở có thời gian
                                      Mong sao đừng bỏ cuộc
                                      Dù còn chút hơi tàn !
        
       
      Tạp chí Sông Hương tháng 11 - 2009  giới thiệu




Sau đây là chùm thơ Mai Văn Hoan tự chọn :


          
 



   TIẾNG CHIM HOÀNG HÔN


Tôi trở thành người xa lạ
Lặng lẽ tìm về chốn xưa
Chẳng ai nhận ra tôi cả
Một mình lạc lõng bơ vơ...


Một mình bơ vơ lạc lõng...
Ngượng ngùng như kẻ vô duyên
Lâu rồi còn ai nhớ nữa ?
Mong gì gặp lại người quen !


Người ấy... chân trời góc bể
Long đong bèo dạt mây trôi...
Cuộc sống áo cơm vất vả
Chuyện xưa chắc đã quên rồi !


Tôi đành ngậm ngùi quay gót
Trái tim trĩu nặng u buồn
Bỗng nghe tiếng chim lảnh lót
Làm xao động cả hoàng hôn


Tôi cảm ơn chim chim nhé
Không ngờ còn nhận ra nhau !
Giọng chim vẫn trong như thế
Chỉ tóc tôi đã đổi màu...



                           

  TRÁCH   CHÀNG   KIM


Thật thà chi bấy chàng Kim
Trong đêm tái hợp đi tin lời Kiều
Nghĩ mình lưu lạc đã nhiều
Buộc lòng nàng phải nói điều thiệt hơn
Sao chàng không thấu nguồn cơn ?
Để cho nàng tự vùi chôn đời mình !
Gặp nhau biết mấy là tình
Nhói đau tim chị... lặng nhìn duyên em
Trách chàng khéo chọn lời khen
Xót xa thân phận Kiều thêm não lòng
Bấy lâu nàng vẫn thầm mong
" Nhị đào thà bẻ..." mà không gặp người
Quả cau nhỏ miếng trầu hôi
Sao không thắm lại nụ cười Xuân Hương ?
Đoạn trường càng nghĩ càng thương
" Đã tu tu trót..." còn hơn thế này !
Thức cùng nhau trọn đêm nay
" Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời"
Sao chàng đã vội tin lời
Sao chàng đã vội buông xuôi hỡi chàng ?
Xưa dở dang nay dở dang...
Tình yêu ai nỡ tráo sang bạn bè ?

Tưởng là hạnh phúc... ai dè...
Trách chàng nông nổi đi nghe lời Kiều !


                                                             
                                                              

HẠT BỤI LÃNG DU 
            Gửi C.H


Em đang ở phương nào hỡi hạt bụi lãng du ?
Đêm Ngự Bình ai ru trong gió thoảng ?
Ai lẳng lặng quay trở về dĩ vãng ?
Dã thảo tường rêu còn in bóng một người...


Khúc du ca chẳng ai hát nữa rồi
Công viên đá trơ lì cùng mưa nắng
Con đò nhỏ nép mình nơi bến vắng
Điệu Nam ai thổn thức Phu Văn Lâu...


Hỡi hạt bụi lãng du đang lưu lạc nơi đâu ?
Hãy trở về nghe em Cố đô đang ngóng đợi
Em biết không gốc sứ già Đại Nội
Bao năm trời vẫn mỏi mắt chờ mong  !
   


 TỰ VẤN       
   
         " Thương thay thân phận con rùa
       Lên đình đội hạc xuống chùa đội bia"


Ta là người có công
Hay là người có tội ?
Ai oán hận ta không ?
Đêm đêm ta tự hỏi


Công ta ai cũng biết
Tội ta mấy ai hay
Lương tâm ta cắn rứt
Từ bấy cho đến nay


Chỉ một lời lỡ nói
Chẳng suy xét trước sau
An Dương Vương nổi giận
Chém rơi đầu Mỵ Châu


Máu tươi ròng ròng chảy
Dẫu có thành ngọc trai
Những lời ta buộc tội
Ngàn năm còn oan sai !


Có phải vì thế chăng
Ta bị trời trừng phạt
Lên đình thì đội hạc
Xuống chùa thì đội bia ?


         Mai Văn Hoan            

                  

More...

CÓ MỘT DÒNG SÔNG

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

CÓ MỘT DÒNG SÔNG



Có một dòng sông thơ ấu
Nước xanh in bóng con đò
Hồn tôi vẫn thường neo đậu
Mỗi khi sóng lớn gió to


Có một dòng sông rực nắng
Nước xanh in bóng cánh buồm
Cánh buồm ước mơ đỏ thắm
Đưa tôi xuống biển lên nguồn...


Có một dòng sông mờ tím
Nước xanh in bóng mẹ nghèo
Ánh mắt dịu hiền của mẹ
Lặng nhìn những đứa con yêu


Có một dòng sông huyền ảo
Nước xanh in bóng trăng sao
Thả mình trên dòng sông ấy
Như bơi giữa dòng ca dao !


                 Mai Văn Hoan           

More...

ĐỌC “VẠN LÝ TRƯỜNG SƠN” CỦA NGUYỄN HỮU QUÝ

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

      ĐỌC "VẠN LÝ TRƯỜNG SƠN" CỦA NGUYỄN HỮU QUÝ

        
         Không hiểu sao những năm gần đây bỗng rộ lên phong trào viết trường ca. Riêng những bạn bè làm thơ mà tôi quen biết có đến sáu bảy người đã và đang viết trường ca. Điều này làm tôi nhớ  những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ một loạt trường ca ra đời ghi lại dấu ấn của một thời oanh liệt. Có thể kể : Nguyễn Khoa Điềm với  Mặt đường khát vọng Thu Bồn với Bài ca chim Chrao Hữu Thỉnh với Đường tới thành phố Thanh Thảo với Những người đi tới biển... Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào thật công phu nghiên cứu một cách đầy đủ toàn diện để rút ra những đặc điểm những cái được và chưa được của trường ca đương đại Việt Nam. Dưới đây chỉ là một vài nhận xét nhỏ của tôi về bản trường ca Vạn lý Trường Sơn của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý (NXB Quân đội Nhân dân ấn hành tháng 4 - 2009).

More...

GIẾNG LÀNG

By Chủ bút: Mai Văn Hoan

      GIẾNG LÀNG


Về quê tìm lại giếng làng
Lối quen mà cứ ngỡ ngàng bước chân
Bao phen trời đất xoay vần
Làng xưa xóm cũ mấy lần đổi thay
Nép sau vườn dưới vòm cây
Lòng băn khoăn có phải đây giếng làng ?

Hỡi người duyên số dở dang
Nhớ chăng đêm ấy trăng vàng chung soi ?
Lỡ tay thương chiếc gàu rơi
Làm xao lòng giếng một thời vụng yêu ...

Giếng làng thuở ấy trong veo
Chia khắp thiên hạ : giàu nghèo hèn sang ...
Gái làng tắm nước giếng làng
Tóc càng óng mượt da càng mịn thơm

Bây giờ nước có đầy hơn
Chạnh buồn tên giếng không còn từ lâu
Bâng khuâng cầm lại dây gàu
Buông tay nhè nhẹ ... sợ đau ... giếng làng !


              
                    Mai Văn Hoan

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'2482','944n0jebld104uaiadnne955v1','0','Guest','0','54.196.98.96','2018-08-18 06:54:24','/news/page-5.html')